Tác giả: PGS. TS. NGUYỄN XUÂN KHANG; TS. NGUYỄN VĂN THÀNH; TS. BÙI NGỌC HƯNG; ThS. ĐOÀN THỊ THU TRANG; NGUYỄN VĂN THỦY; ThS. PHAN VĂN CHƯƠNG - Viện Khoa học và Công nghệ Giao thông vận tải
![]() |
| Đoạn đường thử nghiệm và thiết bị chế tạo trong nghiên cứu công nghệ thích hợp phục vụ xây dựng đường giao thông nông |
Tháng 3/1957, Bộ Giao thông và Bưu điện tổ chức lễ khánh thành Viện Thí nghiệm vật liệu, chính thức đánh dấu mốc son cho sự hình thành của một đơn vị nghiên cứu khoa học, sẵn sàng chinh phục những nhiệm vụ mới. Ngay từ khi mới thành lập, cùng với việc tăng cường cơ sở vật chất, trụ sở làm việc, Viện đã đầu tư trang thiết bị thí nghiệm, xây dựng đội ngũ cán bộ kỹ thuật, thí nghiệm viên, đáp ứng kịp thời các hoạt động chính là thí nghiệm các loại vật liệu phục vụ công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và sự nghiệp giải phóng miền Nam thống nhất đất nước. Vượt qua mọi điều kiện khó khăn gian khổ trong thời chiến, Viện đã nỗ lực thực hiện các kỹ thuật thí nghiệm ngày một chính xác, sáng tạo thêm nhiều phương pháp, kỹ năng và hạng mục thí nghiệm mới; củng cố và hệ thống hóa quy trình thí nghiệm các loại vật liệu xây dựng; quy trình bảo quản và sử dụng thiết bị; đào tạo thêm nhiều thí nghiệm viên cho các đơn vị bạn và các công trường khắp các tỉnh/thành phố miền Bắc; góp phần quan trọng trong việc hình thành mạng lưới thí nghiệm vật liệu xây dựng chung cho toàn ngành GTVT. Thời kỳ khôi phục phát triển ngành GTVT sau khi thống nhất đất nước, Viện đã có sự chuyển hướng dần từ nghiên cơ bản sang nghiên cứu ứng dụng, tập trung vào giải quyết các vấn đề kỹ thuật cụ thể từ thực tiễn đặt ra, đồng thời đẩy mạnh triển khai các tiến bộ kỹ thuật mới vào sản xuất. Nhằm đáp ứng yêu cầu của thực tiễn, giai đoạn từ 1961 - 1975, Viện được đổi tên thành Viện Kỹ thuật Giao thông. Giai đoạn 1984 - 1995, Viện lại đổi tên thành Viện Khoa học Kỹ thuật GTVT.
Năm 1996, thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ theo Quyết định số 782/TTg ngày 24/10/1996 về việc sắp xếp các cơ quan nghiên cứu - triển khai KH&CN, Bộ GTVT đã ký Quyết định số 2967/QĐ/TCCB-LĐ ngày 06/11/1996 đổi tên thành Viện KH&CN GTVT, mở đầu cho một thời kỳ phát triển mới của Viện. Thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế (1996 - 2006), Viện đã phát triển các hoạt động cả về nghiên cứu KH&CN, dịch vụ KH&CN về tư vấn thiết kế, giám sát, thẩm tra; thí nghiệm kiểm định, trong phòng, hiện trường; đào tạo tư vấn giám sát, thí nghiệm viên, nghiên cứu sinh...; đồng thời chính thức đưa công tác nghiên cứu, tư vấn đánh giá tác động và bảo vệ môi trường GTVT vào hoạt động phục vụ ngành GTVT. Từ năm 2004, Viện đã được Tổ chức RWTÜV Systems GmbH (CHLB Đức) cấp Giấy chứng nhận quản lý chất lượng ISO 9001:2000, tiếp tục cập nhật theo phiên bản ISO 9001:2008 và ISO 9001-2015.
Từ năm 2005 đến nay, Viện đã bước vào giai đoạn chuyển đổi hoạt động sang cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm để phù hợp với tốc độ phát triển chung của nền kinh tế thị trường, tiến tới công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Mời độc giả xem nội dung đầy đủ bài khoa học tại đây
Đường sắt tốc độ cao (ĐSTĐC) Bắc - Nam là dự án trọng điểm quốc gia, có ý nghĩa hết sức quan trọng, góp phần phát triển kinh tế - xã hội, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Trong đó, việc tiếp nhận chuyển giao công nghệ, phát triển công nghiệp và đào tạo nguồn nhân lực là một trong những yếu tố quan trọng đảm bảo quá trình đầu tư, vận hành, khai thác hiệu quả và từng bước đưa đường sắt tốc độ cao trở thành động lực phát triển của nền kinh tế.
Ngày 9/1 tại Hà Nội, Trường Đại học Giao thông vận tải (GTVT) phối hợp Trường Đại học Giao thông Tây Nam (Trung Quốc) tổ chức Hội thảo quốc tế Xây dựng đường sắt tốc độ cao tại Việt Nam và Kinh nghiệm của Trung Quốc.
Tại Việt Nam, chi phí logistics trung bình ở mức tương đương 16,8 - 17% GDP và vẫn còn ở mức khá cao so với mức bình quân chung của thế giới (khoảng 10,6%). Với tốc độ tăng lượng hàng hóa nêu trên, nếu cơ sở hạ tầng logistics và tính kết nối giữa các phương thức vận tải không được cải thiện sẽ không thể đáp ứng được nhu cầu vận tải, tình trạng tắc nghẽn các tuyến đường dẫn vào cảng biển chính sẽ ngày càng nghiêm trọng, khi đó chi phí logistics có thể tăng cao hơn so với thời điểm hiện tại, nếu không có giải pháp vận tải lâu dài, bền vững.
Tiêu chuẩn kỹ thuật số 44 (UN Regulation No.44 - UN R44) và Tiêu chuẩn kỹ thuật số 129 (UN Regulation No.129 - UN R129) do Ủy ban Kinh tế Liên hợp quốc về châu Âu (UNECE) ban hành cho hệ thống thiết bị an toàn của trẻ em trên xe ô tô. Hai tiêu chuẩn này được trình bày và so sánh với nhau để làm rõ tính ứng dụng thực tế vào Việt Nam. Bên cạnh đó, tình hình áp dụng hai tiêu chuẩn này trên thế giới và cụ thể tại Malaysia được trình bày chi tiết. Hiện tại, Việt Nam nên áp dụng đồng thời cả hai tiêu chuẩn để khuyến khích người đi ô tô sử dụng ghế trẻ em theo khả năng tài chính và nhu cầu an toàn; đồng thời nên có định hướng dẫn chuyển hoàn toàn sang UN R129.
Theo Cục Đăng kiểm VN, 5 thông tư mới về lĩnh vực đăng kiểm cùng có hiệu lực từ 1/1/2025, nhằm đồng bộ hóa về thời gian với Luật Trật tự, ATGT đường bộ.
6 quốc gia dọc tuyến sông Lan Thương – Mê Kông đang hướng đến xây dựng, áp dụng các quy định chung về giao thông thủy trên tuyến sông này; tiến tới thiết lập mạng lưới vận tải thủy xuyên suốt 4 nước.
Bình luận
Thông báo
Bạn đã gửi thành công.