
Hội thảo Kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường đối với ô tô tham gia giao thông
Ngày 24/7, Trường Đại học Việt Đức tổ chức Hội thảo Kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường đối với ô tô tham gia giao thông tại tỉnh Bình Dương.
Tại Hội thảo, các đại biểu tập trung thảo luận giải quyết các thách thức có tính chất quyết định và các giải pháp công nghệ trong kiểm định phương tiện, với mục tiêu nâng cao an toàn giao thông và cải thiện chất lượng không khí.
Phát biểu tại Hội thảo, ông Nguyễn Đông Phong, Giám đốc Trung tâm Thử nghiệm khí thải phương tiện giao thông cơ giới đường bộ (Cục Đăng kiểm Việt Nam) cho biết, những năm qua Việt Nam có nhiều nỗ lực để kiểm soát phát thải độc hại. Tuy nhiên, để thực hiện việc kiểm định khí thải xe máy là một bài toán cực kỳ thử thách, bởi lượng xe máy ở Việt Nam rất lớn (khoảng 60 triệu xe mô tô, gắn máy và 6 triệu xe ô tô) việc xây dựng mạng lưới kiểm định mất gần 30 năm mới được gần 300 trạm. Còn lượng xe máy gấp 10 lần ô tô, dù kiểm định đơn giản hơn nhưng tỉ lệ tương ứng để phủ rộng giai đoạn đầu cũng cần hàng nghìn cơ sở tham gia kiểm định.

Ông Nguyễn Đông Phong, Giám đốc Trung tâm Thử nghiệm khí thải phương tiện giao thông cơ giới đường bộ phát biểu tại Hội thảo
Để giải bài toán kiểm soát khí thải phương tiện, ông Nguyễn Văn Phương, Trưởng Phòng Kiểm định xe cơ giới (Cục Đăng kiểm Việt Nam) cho biết: "Kiểm định khí thải phương tiện giao thông là một trong những yếu tố quan trọng để nâng cao chất lượng bảo vệ môi trường, đảm bảo thực hiện chủ trương mục tiêu đưa phát thải ròng về zero vào năm 2050. Việc kiểm soát khí thải ô tô, xe máy cũng được nghiên cứu từ lâu (năm 2010 Chính phủ đã có Đề án 909 về kiểm soát khí thải ô tô, xe máy đang lưu hành)".
Theo số lượng thống kê của Cục Cảnh sát giao thông, hiện nay số lượng mô tô, xe máy ở Việt Nam rất lớn (khoảng 60 triệu xe) với số lượng phương tiện lớn như vậy việc kiểm soát khí thải là bài toán cực kỳ nan giải và ảnh hưởng rất lớn đến nhiều người dân (đặc biệt người có thu nhập thấp). Chính vì vậy, các cơ quan cần nghiên cứu kỹ, thận trọng, đánh giá tác động để đưa ra lộ trình cho phù hợp. Cục Đăng kiểm Việt Nam cũng đã tính toán phương án huy động khoảng 300 đơn vị trong hệ thống kiểm định xe cơ giới hiện nay, hơn 600 cơ sở bảo dưỡng xe máy, 1.800 đơn vị thuộc hệ thống các xưởng bảo hành, bảo dưỡng xe máy. Tổng cộng sẽ có khoảng 2.700 đơn vị có thể kiểm định khí thải xe máy. Phải huy động toàn bộ nguồn lực thì làm mới thành công được, ông Phương cho biết thêm.

Ông Nguyễn Văn Phương, Trưởng Phòng Kiểm định xe cơ giới (Cục Đăng kiểm Việt Nam) cho rằng "Kiểm soát khí thải là bài toán nan giải và ảnh hưởng rất lớn đến nhiều người dân. Vì vậy, cần nghiên cứu cẩn trọng, đánh giá tác động để đưa ra lộ trình cho phù hợp".
Cũng theo ông Phương, nên triển khai kiểm soát khí thải phương tiện giao thông ở các thành phố lớn trước như Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Hải Phòng, Cần Thơ… sau đó mới lan tỏa dần ra các địa phương khác. Ngoài ra, có thể nghiên cứu các loại phương tiện nào cần làm trước để vừa đảm bảo mục tiêu bảo vệ môi trường vừa đảm bảo tính khả thi của việc kiểm soát khí thải.
Thời gian tới, Bộ GTVT, Cục Đăng kiểm Việt Nam sẽ tích cực phối hợp với Bộ Tài nguyên và Môi trường sớm trình Chính phủ lộ trình áp dụng chương trình khí thải đối với các phương tiện tham gia giao thông, ông Phương nhấn mạnh.

Lượng phương tiện tham gia giao thông vào giờ cao điểm trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh
Ở góc nhìn nghiên cứu khoa học, PGS. TS. Vũ Anh Tuấn, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu giao thông vận tải (Trường Đại học Việt Đức) cho rằng: "Đối với các thành phố lớn ở Việt Nam như TP. Hồ Chí Minh nơi có rất nhiều phương tiện (khoảng 8 triệu xe máy và hơn 1 triệu xe ô tô) không chỉ gây ra ùn tắc và tai nạn giao thông mà còn gây ra tác động đến sức khỏe của người dân rất lớn. Vì vậy, TP. Hồ Chí Minh cần phải có nghiên cứu và đưa ra lộ trình phù hợp để kiểm soát phát thải, khí bụi bẩn. Thời gian tới, Trường Đại học Việt Đức cũng sẽ phối hợp với các cơ quan bộ, ngành, địa phương và các tổ chức nước ngoài nghiên cứu sâu hơn để đưa ra lộ trình cho phù hợp".
"Tuy nhiên, trước mắt, tôi nghĩ TP. Hồ Chí Minh có thể đi tiên phong triển khai vấn đề này trong 5 năm tới, có thể phối hợp với Cục Đăng kiểm Việt Nam để xem xét các quy chuẩn, quy định hướng dẫn về mặt kỹ thuật đối với kiểm soát khí thải xe máy để triển khai ở giai đoạn đầu bằng cách sử dụng các trung tâm bảo dưỡng xe máy để kiểm định", ông Tuấn chia sẻ.
Góp ý thêm, ông Tuấn cho rằng cần có giải pháp kỹ thuật để giảm lượng phát thải bụi bẩn của những xe máy nào không đạt yêu cầu khi kiểm định. Với những xe không thể bảo dưỡng thì cần thải loại. Đi liền với đó thì thành phố cần có chính sách hỗ trợ cá nhân, doanh nghiệp để đổi sang xe máy điện... Đó là những định hướng lộ trình trong 5 năm tới mà TP. Hồ Chí Minh có thể thực hiện được.
Đường sắt tốc độ cao (ĐSTĐC) Bắc - Nam là dự án trọng điểm quốc gia, có ý nghĩa hết sức quan trọng, góp phần phát triển kinh tế - xã hội, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Trong đó, việc tiếp nhận chuyển giao công nghệ, phát triển công nghiệp và đào tạo nguồn nhân lực là một trong những yếu tố quan trọng đảm bảo quá trình đầu tư, vận hành, khai thác hiệu quả và từng bước đưa đường sắt tốc độ cao trở thành động lực phát triển của nền kinh tế.
Ngày 9/1 tại Hà Nội, Trường Đại học Giao thông vận tải (GTVT) phối hợp Trường Đại học Giao thông Tây Nam (Trung Quốc) tổ chức Hội thảo quốc tế Xây dựng đường sắt tốc độ cao tại Việt Nam và Kinh nghiệm của Trung Quốc.
Tại Việt Nam, chi phí logistics trung bình ở mức tương đương 16,8 - 17% GDP và vẫn còn ở mức khá cao so với mức bình quân chung của thế giới (khoảng 10,6%). Với tốc độ tăng lượng hàng hóa nêu trên, nếu cơ sở hạ tầng logistics và tính kết nối giữa các phương thức vận tải không được cải thiện sẽ không thể đáp ứng được nhu cầu vận tải, tình trạng tắc nghẽn các tuyến đường dẫn vào cảng biển chính sẽ ngày càng nghiêm trọng, khi đó chi phí logistics có thể tăng cao hơn so với thời điểm hiện tại, nếu không có giải pháp vận tải lâu dài, bền vững.
Tiêu chuẩn kỹ thuật số 44 (UN Regulation No.44 - UN R44) và Tiêu chuẩn kỹ thuật số 129 (UN Regulation No.129 - UN R129) do Ủy ban Kinh tế Liên hợp quốc về châu Âu (UNECE) ban hành cho hệ thống thiết bị an toàn của trẻ em trên xe ô tô. Hai tiêu chuẩn này được trình bày và so sánh với nhau để làm rõ tính ứng dụng thực tế vào Việt Nam. Bên cạnh đó, tình hình áp dụng hai tiêu chuẩn này trên thế giới và cụ thể tại Malaysia được trình bày chi tiết. Hiện tại, Việt Nam nên áp dụng đồng thời cả hai tiêu chuẩn để khuyến khích người đi ô tô sử dụng ghế trẻ em theo khả năng tài chính và nhu cầu an toàn; đồng thời nên có định hướng dẫn chuyển hoàn toàn sang UN R129.
Theo Cục Đăng kiểm VN, 5 thông tư mới về lĩnh vực đăng kiểm cùng có hiệu lực từ 1/1/2025, nhằm đồng bộ hóa về thời gian với Luật Trật tự, ATGT đường bộ.
6 quốc gia dọc tuyến sông Lan Thương – Mê Kông đang hướng đến xây dựng, áp dụng các quy định chung về giao thông thủy trên tuyến sông này; tiến tới thiết lập mạng lưới vận tải thủy xuyên suốt 4 nước.
Bình luận
Thông báo
Bạn đã gửi thành công.