Một số quan điểm và định hướng quy hoạch ngành GTVT

sao sao sao sao sao
17/07/2021 08:22

Quy hoạch ngành GTVT đang trong giai đoạn hoàn thiện và đề xuất Chính phủ phê duyệt. Đây là cơ hội lớn để ngành GTVT đúc kết, chắt lọc và hoàn thiện bản quy hoạch với ý nghĩa hết sức quan trọng, đồng thời rà soát định hướng với tầm nhìn dài hạn hơn, mang khát vọng nhiều hơn với một hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông (KCHTGT) đồng bộ, hiện đại trong tương lai đến năm 2050.

 

images1274708_IMG_2175_1_
 

Quan điểm đột phá chiến lược phát triển KCHT và tầm nhìn đến năm 2050 của ngành GTVT

Bám sát các quan điểm, chủ trương trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng và dự báo xu thế phát triển trong thời gian tới, quan điểm lập quy hoạch được tập trung vào những nội dung chính như sau:

1) KCHTGT đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội, được xác định là một trong ba khâu đột phá chiến lược, cần ưu tiên đầu tư đồng bộ, hiện đại, tạo tiền đề cho sự phát triển, xóa đói giảm nghèo, bảo đảm quốc phòng - an ninh, chủ quyền lãnh thổ quốc gia, thích ứng với biến đổi khí hậu và phát triển bền vững.

2) Phát triển KCHTGT từng bước đồng bộ, hiện đại, bảo đảm ATGT, kết nối hiệu quả giữa các loại hình giao thông, kết nối vùng, miền, các đầu mối vận tải và quốc tế; phát huy ưu thế của từng phương thức vận tải; tái cơ cấu thị trường vận tải nội địa theo hướng giảm thị phần vận tải đường bộ, tăng thị phần vận tải đường sắt và đường thủy nội địa, giảm chi phí vận tải và logistics.

3) Hệ thống KCHTGT được quy hoạch bảo đảm cân đối hài hòa, hợp lý về địa lý, dân số và quy mô kinh tế, nhu cầu phát triển vùng, miền và hiệu quả đầu tư, gắn kết với các quy hoạch khác bảo đảm tầm nhìn dài hạn, gắn liền với không gian phát triển kinh tế cho các địa phương, tạo quỹ đất cho phát triển công nghiệp, du lịch, dịch vụ, làm gia tăng giá trị đất đai để tạo nguồn lực mới cho địa phương và Trung ương.

4) Huy động mọi nguồn lực để đầu tư phát triển hệ thống KCHTGT; tập trung đầu tư các dự án theo phương thức PPP, sử dụng nguồn vốn nhà nước trong từng dự án cụ thể; phải linh hoạt, sáng tạo trong tình hình thực tế, trong đó vốn nhà nước đóng vai trò là “vốn mồi” để thu hút tối đa nguồn lực từ các thành phần kinh tế khác theo phương châm “đầu tư công dẫn dắt đầu tư tư nhân”; thể chế hóa các giải pháp về phân cấp, phân quyền về huy động nguồn lực, về tổ chức thực hiện cho các địa phương.

5) Chủ động tiếp cận, đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ hiện đại, đặc biệt là các thành tựu của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư trong xây dựng, quản lý, khai thác nhằm hạn chế ô nhiễm môi trường và tiết kiệm năng lượng, sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên thiên nhiên.

Một số định hướng chủ yếu trong quy hoạch Ngành

* Định hướng liên kết vùng và kết nối vùng, liên vùng:

Đây là nhiệm vụ hết sức quan trọng được triển khai trong các quy hoạch từng lĩnh vực, các nội dung kết nối được

Mục tiêu năm 2030, hệ thống KCHTGT đáp ứng được nhu cầu vận tải với tổng khối lượng vận chuyển hàng hóa đạt 4,4 tỷ tấn, tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn 6,82%/năm, khối lượng hàng hóa luân chuyển nội địa đạt 534 tỷ tấn.km, tốc độ tăng trưởng giai đoạn 7,0%/năm. Khối lượng vận chuyển hành khách đạt 10,46 tỷ lượt khách, tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn 7,33%/năm; khối lượng hành khách luân chuyển nội địa khoảng 403 tỷ khách.km, tốc độ tăng trưởng bình quân 7,28%/năm. Tầm nhìn đến năm 2050: Phát triển mạng lưới GTVT đồng bộ, hiện đại, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng - an ninh, bảo đảm cạnh tranh với các nước trong khu vực và trên thế giới, góp phần đưa nước ta cơ bản trở thành nước phát triển, có thu nhập cao vào năm 2045.

phân tích, xác định hướng quy hoạch nhằm giải quyết, tháo gỡ các “điểm nghẽn” trên các hành lang vận tải dựa trên quy hoạch không gian phát triển kinh tế, bảo đảm kết nối nội vùng, liên vùng. Tổng nhu cầu vốn đầu tư cho 5 phương thức vận tải giai đoạn 2021 - 2030 là khoảng 2.100 - 2.200 nghìn tỷ đồng (chưa bao gồm chi phí bảo trì hạ tầng), trong đó tổng nhu cầu vốn theo khả năng cân đối nguồn lực là 1.874 nghìn tỷ đồng (với ngân sách nhà nước khoảng 894 nghìn tỷ đồng, chiếm 48%).

* Các nguyên tắc kết nối các phương thức vận tải trong quy hoạch:

1) Trong 5 phương thức vận tải, đường bộ có tính linh hoạt cao, chiếm ưu thế trong vận chuyển cự ly ngắn nên chủ động trong việc kết nối tới các phương thức vận tải khác; 2) Từng bước đầu tư các tuyến đường sắt quốc gia và đường sắt chuyên dùng kết nối với các cảng biển lớn, cảng hàng không (CHK) quốc tế quan trọng và các cảng thủy nội địa chính, trung tâm logistics; 3) Đường thủy nội địa có lợi thế tự nhiên trong kết nối với cảng biển, đóng vai trò hỗ trợ đường bộ trong việc thu gom và giải tỏa hàng hóa tại cảng biển; 4) Cảng biển và CHK có những yêu cầu đặc biệt về vị trí, quy mô nên sẽ là phương thức thụ động trong kết nối, được ưu tiên xác định vị trí và yêu cầu đối với các phương thức còn lại phải chủ động kết nối.

- Đường bộ: Hướng phát triển mạng lưới đường bộ có độ bao phủ hợp lý và đồng bộ với các quy hoạch có liên quan. Mạng lưới đường bộ dự kiến đến năm 2030: Quy hoạch 26 tuyến đường bộ cao tốc, khoảng trên 5.170 km; 173 tuyến quốc lộ, khoảng 29.854 km, trong đó tập trung hoàn thiện tất cả các “điểm nghẽn” kết nối đường bộ với các ngành GTVT khác, đặc biệt tập trung tại các cảng biển, CHK, cửa khẩu quốc tế chính. Định hướng đến năm 2050: Chiều dài quy hoạch tuyến cao tốc khoảng 9.014 km, hệ thống quốc lộ giữ nguyên, trong đó hoàn thiện mạng lưới đường bộ trong cả nước đồng bộ, hiện đại, bảo đảm sự kết nối và phát triển hợp lý giữa các phương thức vận tải.

- Đường sắt: Từng bước đầu tư để hình thành mạng lưới và giữ vai trò là loại hình chủ đạo trong tương lai. Dự kiến đến năm 2030: Mạng lưới đường sắt quốc gia được quy hoạch 16 tuyến với chiều dài 4.746,4 km, bao gồm 7 tuyến chính hiện hữu được quy hoạch với chiều dài 2.378,4 km và quy hoạch để chuẩn bị, thực hiện đầu tư 9 tuyến đường sắt với chiều dài 2.368 km. Định hướng đến năm 2050: Mạng lưới đường sắt quốc gia bao gồm 25 tuyến với chiều dài 6.427 km; tăng thêm 9 tuyến so với kỳ quy hoạch đến năm 2030 với chiều dài tăng thêm là 1.681 km.

- Đường thủy nội địa: Phát huy lợi thế là nước có mạng lưới sông kênh mật độ cao, có lợi thế ở đồng bằng sông Hồng, Đông Nam bộ, đồng bằng sông Cửu Long giữ vai trò gom và giải tỏa hàng hóa cảng biển. Mạng lưới đường thủy nội địa dự kiến đến năm 2030: Gồm 55 tuyến vận tải thủy nội địa chính, 54 cụm cảng hàng hóa và 39 cụm cảng hành khách; phát triển đồng bộ cả kết cấu hạ tầng luồng tuyến và cảng bến đối với các tuyến vận tải container bằng đường thủy nội địa kết nối với hệ thống cảng biển. Định hướng đến năm 2050: Đầu tư đồng bộ, hiện đại các tuyến vận tải cũng như các cảng hàng hóa và hành khách theo chiều sâu, đặc biệt là hệ thống bốc dỡ, năng lực quản trị để nâng cao năng lực vận tải thông qua.

- Hàng hải: Với đặc điểm là đất nước có bờ biển dài, với nhiều tiềm năng khai thác lợi thế từ biển trong hoạt động vận tải hàng hóa, cảng biển được dự kiến quy hoạch đến năm 2030 gồm 5 nhóm cảng biển với 36 cảng biển, trong đó: 2 cảng biển đặc biệt (Hải Phòng, Bà Rịa - Vũng Tàu), 15 cảng biển loại I, 6 cảng biển loại II, 13 cảng biển loại III đáp ứng lượng hàng thông qua khoảng 1,14 - 1,42 tỷ tấn. Các cảng biển Thanh Hóa, Đà Nẵng, Khánh Hòa quy hoạch tiềm năng thành cảng biển đặc biệt. Định hướng đến năm 2050: Đầu tư đồng bộ, hiện đại các luồng, cảng, các công trình phụ trợ, hệ thống bốc dỡ để nâng cao hiệu quả khai thác; tập trung phát triển các cảng biển đặc biệt tiềm năng, cửa ngõ quốc tế theo quy hoạch.

- Hàng không: Là lĩnh vực có khả năng cập nhật các công nghệ hiện đại trong cả quản lý, vận hành, khai thác ngang tầm các nước trong khu vực và thế giới. Quy hoạch hàng không dự kiến đến năm 2030: Quy hoạch 28 CHK, bao gồm 14 CHKQT, 14 CHK quốc nội, tổng công suất thiết kế dự kiến 278 triệu hành khách/năm. Định hướng đến năm 2050: Quy hoạch 29 CHK, trong đó quy hoạch bổ sung CHK Cao Bằng là CHK quốc nội; phát triển cụm CHK vùng Thủ đô Hà Nội và vùng TP. Hồ Chí Minh thành hai trung tâm vận tải hàng không đầu mối và trung chuyển quốc tế mang tầm khu vực; tiếp tục duy trì quy hoạch vị trí CHK Quốc tế Hải Phòng nhằm mục đích dự bị cho CHK Quốc tế Nội Bài và CHK Quốc tế Cát Bi.

Ý kiến của bạn

Bình luận

Phát triển nguồn nhân lực cho xây dựng, vận hành đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam

Phát triển nguồn nhân lực cho xây dựng, vận hành đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam

Đường sắt tốc độ cao (ĐSTĐC) Bắc - Nam là dự án trọng điểm quốc gia, có ý nghĩa hết sức quan trọng, góp phần phát triển kinh tế - xã hội, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Trong đó, việc tiếp nhận chuyển giao công nghệ, phát triển công nghiệp và đào tạo nguồn nhân lực là một trong những yếu tố quan trọng đảm bảo quá trình đầu tư, vận hành, khai thác hiệu quả và từng bước đưa đường sắt tốc độ cao trở thành động lực phát triển của nền kinh tế.

Hội thảo quốc tế Xây dựng đường sắt tốc độ cao ở Việt Nam và Kinh nghiệm từ Trung Quốc

Hội thảo quốc tế Xây dựng đường sắt tốc độ cao ở Việt Nam và Kinh nghiệm từ Trung Quốc

Ngày 9/1 tại Hà Nội, Trường Đại học Giao thông vận tải (GTVT) phối hợp Trường Đại học Giao thông Tây Nam (Trung Quốc) tổ chức Hội thảo quốc tế Xây dựng đường sắt tốc độ cao tại Việt Nam và Kinh nghiệm của Trung Quốc.

Phát triển đường thuỷ nội địa - Giải pháp giảm bền vững chi phí logistics

Phát triển đường thuỷ nội địa - Giải pháp giảm bền vững chi phí logistics

Tại Việt Nam, chi phí logistics trung bình ở mức tương đương 16,8 - 17% GDP và vẫn còn ở mức khá cao so với mức bình quân chung của thế giới (khoảng 10,6%). Với tốc độ tăng lượng hàng hóa nêu trên, nếu cơ sở hạ tầng logistics và tính kết nối giữa các phương thức vận tải không được cải thiện sẽ không thể đáp ứng được nhu cầu vận tải, tình trạng tắc nghẽn các tuyến đường dẫn vào cảng biển chính sẽ ngày càng nghiêm trọng, khi đó chi phí logistics có thể tăng cao hơn so với thời điểm hiện tại, nếu không có giải pháp vận tải lâu dài, bền vững.

Tiêu chuẩn thiết bị an toàn cho trẻ em trên ô tô, kinh nghiệm thế giới và hướng áp dụng ở Việt Nam

Tiêu chuẩn thiết bị an toàn cho trẻ em trên ô tô, kinh nghiệm thế giới và hướng áp dụng ở Việt Nam

Tiêu chuẩn kỹ thuật số 44 (UN Regulation No.44 - UN R44) và Tiêu chuẩn kỹ thuật số 129 (UN Regulation No.129 - UN R129) do Ủy ban Kinh tế Liên hợp quốc về châu Âu (UNECE) ban hành cho hệ thống thiết bị an toàn của trẻ em trên xe ô tô. Hai tiêu chuẩn này được trình bày và so sánh với nhau để làm rõ tính ứng dụng thực tế vào Việt Nam. Bên cạnh đó, tình hình áp dụng hai tiêu chuẩn này trên thế giới và cụ thể tại Malaysia được trình bày chi tiết. Hiện tại, Việt Nam nên áp dụng đồng thời cả hai tiêu chuẩn để khuyến khích người đi ô tô sử dụng ghế trẻ em theo khả năng tài chính và nhu cầu an toàn; đồng thời nên có định hướng dẫn chuyển hoàn toàn sang UN R129.

5 thông tư mới lĩnh vực đăng kiểm cùng có hiệu lực từ 1/1/2025

5 thông tư mới lĩnh vực đăng kiểm cùng có hiệu lực từ 1/1/2025

Theo Cục Đăng kiểm VN, 5 thông tư mới về lĩnh vực đăng kiểm cùng có hiệu lực từ 1/1/2025, nhằm đồng bộ hóa về thời gian với Luật Trật tự, ATGT đường bộ.

Đề xuất thiết lập tuyến vận tải thủy xuyên suốt 4 nước dọc sông Mê Kông

Đề xuất thiết lập tuyến vận tải thủy xuyên suốt 4 nước dọc sông Mê Kông

6 quốc gia dọc tuyến sông Lan Thương – Mê Kông đang hướng đến xây dựng, áp dụng các quy định chung về giao thông thủy trên tuyến sông này; tiến tới thiết lập mạng lưới vận tải thủy xuyên suốt 4 nước.