![]() |
Suy giảm nghiêm trọng
Khai thác biển, làm giàu từ biển là vấn đề đặt ra trong mỗi quốc gia có biển hiện nay, nhưng thường đi kèm với đó là các phương thức khai thác thiếu tính bền vững. Các hoạt động khai thác chỉ tập trung đáp ứng các mục tiêu phát triển kinh tế để đạt được các mong muốn trước mắt, không tính đến hậu quả mai sau, xem nhẹ công tác bảo vệ môi trường như không có hoặc thiếu những qui hoạch, kế hoạch chi tiết. Cùng với đó là cơ chế quản lý thiếu chặt chẽ, những tác động của biến đổi khí hậu dẫn đến tài nguyên sinh vật biển suy giảm, ô nhiễm môi trường biển gia tăng và tác động tiêu cực trở lại đối với phát triển kinh tế - xã hội trên từng địa phương và mỗi quốc gia có biển.
Kết quả nghiên cứu của Liên hiệp quốc và các tổ chức quốc tế đều chỉ ra rằng, hiện nay có khoảng hơn 80% lượng cá biển toàn cầu đã bị khai thác, trong đó có đến 25% lượng cá toàn cầu bị khai thác quá mức hoặc bị khai thác cạn kiệt, trong khi nhiều loài sinh vật biển khác đang đứng trước nguy cơ tuyệt diệt khi sản lượng đánh bắt giảm đến 90% trong những năm gần đây. Liên quan đến tài nguyên sinh vật biển, điều đáng quan tâm là sự suy giảm các rạn san hô, thảm cỏ biển, rừng ngập mặn có nguyên nhân từ con người ngày một tăng ở nhiều khu vực trên thế giới, bao gồm cả Việt Nam.
Theo ước tính của Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên hiệp quốc (FAO), cỏ biển đã mất 30 - 60%; rừng ngập mặn chiếm 1/3; diện tích rừng thế giới mất đến 70% và khoảng 11% các rạn san hô trên toàn cầu đã bị phá hủy hoàn toàn trước năm 1998. Trong vòng 20 năm qua, các nước Đông Nam Á đã mất đi 12% số rạn san hô, 48% số rạn san hô khác đang trong tình trạng suy thoái nghiêm trọng. Các rạn san hô thường là môi trường sống của khoảng 1/4 loài cá, đồng thời còn là nơi cư trú của các loài sinh vật biển khác. Sự mất dần của các rạn san hô sẽ khiến lượng cá bị suy giảm nghiêm trọng, thậm chí còn dẫn đến sự tuyệt chủng của một số sinh vật biển do chúng không còn nơi để cư trú và sinh sản. Điều này không chỉ ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường mà còn tác động đến phát triển kinh tế - xã hội đối với mỗi vùng và mỗi quốc gia có tài nguyên sinh vật biển.
Cùng với sự suy giảm, cạn kiệt nhiều nguồn lợi biển do khai thác, sử dụng không hợp lý và thiếu tính bền vững, khu vực ven biển ở nhiều quốc gia trên trái đất đang chịu những thách thức và áp lực của gia tăng dân số, các hoạt động phát triển kinh tế ven biển, nhất là phát triển công nghiệp, dịch vụ du lịch, nông nghiệp và nuôi trồng thủy, hải sản… Các nguồn thải từ đất liền đổ thải trực tiếp ra các cửa sông và các khu vực ven biển gây nên tình trạng ô nhiễm và suy thoái môi trường ven biển.
Đề xuất chỉ số đánh giá
Theo PGS. TS. Nguyễn Thế Chinh - Viện trưởng Viện Chiến lược, Chính sách Tài nguyên và Môi trường, đa dạng sinh học được định nghĩa chính thức trong Công ước về Đa dạng sinh học (CBD) là đa dạng các sinh cảnh sống, các phức hệ sinh thái trên cạn, biển, các sinh cảnh dưới nước khác, trong đó bao gồm cả sự đa dạng trong một loài, giữa các loài và các hệ sinh thái. Như vậy, trước hết để nói đến sự phong phú và đa dạng của sinh vật biển nói chung hay những loại có thể khai thác trở thành “tài nguyên sinh vật biển” cần phải thống nhất điểm quan trọng, đó là phát triển bền vững tài nguyên sinh vật biển nói riêng không nằm ngoài mục tiêu, nội dung, nguyên tắc chung về bảo tồn và phát triển đa dạng sinh học biển.
Đánh giá tính bền vững của khai thác, sử dụng tài nguyên sinh vật biển bao gồm bảo tồn đa dạng sinh học biển, việc sử dụng bền vững các thành phần của nó và chia sẻ công bằng nguồn lợi, lợi ích từ việc sử dụng tài nguyên sinh vật. Theo đó, PGS. TS. Nguyễn Thế Chinh đề xuất một số tiêu chí đánh giá tính bền vững trong khai thác, sử dụng tài nguyên sinh vật biển trong điều kiện Việt Nam. Cụ thể là chậm nhất đến năm 2020, mọi tầng lớp nhân dân đều nhận thức được giá trị của tài nguyên sinh vật biển và các bước cơ bản, hoạt động cơ bản mà họ có thể thực hiện để bảo tồn và sử dụng một cách bền vững. Các giá trị tài nguyên sinh vật, đa dạng sinh học biển phải được lồng ghép, tích hợp vào hệ thống tiêu chí, chỉ tiêu quốc gia, địa phương về phát triển bền vững, chiến lược xóa đói giảm nghèo và quy trình lập kế hoạch; hệ thống hạch toán và hệ thống báo cáo quốc gia.
Cũng đến năm 2020, hạn chế và tiến tới xóa bỏ được toàn bộ các chính sách ưu đãi bất hợp lý cho việc khai thác tài nguyên sinh vật biển; bãi bỏ hoặc đổi mới (thay thế mới) bằng những chính sách cụ thể nhằm giảm thiểu, hạn chế tác động tiêu cực, tăng cường các chính sách khuyến khích bảo tồn và sử dụng bền vững tài nguyên sinh vật và đa dạng sinh học. Các chính sách tích cực này được phát triển và áp dụng, phù hợp các quy định của quốc gia và hài hòa với Công ước và nghĩa vụ quốc tế khác có liên quan, có tính đến điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước. Chính phủ, doanh nghiệp và các bên liên quan ở tất cả các cấp hoàn thiện việc xây dựng lộ trình, các bước cụ thể để đạt được hoặc đã thực hiện các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch về khai thác, sản xuất và tiêu thụ bền vững tài nguyên sinh vật biển; có chương trình cụ thể về những hoạt động nhằm góp phần hạn chế tác động tiêu cực, thực hiện việc sử dụng các nguồn tài nguyên sinh vật nằm trong giới hạn an toàn sinh thái.
Ngoài việc xây dựng kế hoạch phục hồi và các biện pháp cụ thể cho tất cả các loài đang cạn kiệt, kể cả các loài có giá trị kinh tế thấp, các loại sinh vật biển đang bị đe dọa và các hệ sinh thái dễ bị tổn thương thì phải duy trì được trữ lượng thủy sản tự nhiên nằm trong giới hạn an toàn sinh thái (trữ lượng loài và các hệ sinh thái tự nhiên). Lĩnh vực thuộc ngành Nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản và lâm nghiệp biển đều được quản lý một cách bền vững, đảm bảo bảo tồn đa dạng sinh học. Cải thiện tình trạng của đa dạng sinh học biển, sinh vật biển bằng cách bảo vệ các hệ sinh thái, loài và đa dạng di truyền nhằm đảm bảo đến năm 2020 ít nhất 17% của các vùng nước cạn và nội địa, 10% của các vùng biển và ven biển, đặc biệt là khu vực có tầm quan trọng đặc biệt đối với đa dạng sinh học biển và dịch vụ hệ sinh thái, được bảo tồn thông qua các hệ thống chỉ tiêu quản lý hiệu quả, kết nối tốt các khu bảo tồn và các biện pháp bảo tồn khu vực dựa trên hiệu quả khác, tích hợp vào các cảnh quan và sinh cảnh biển rộng lớn mang tính toàn cầu...
Tăng cường thực hiện khai thác, sử dụng hiệu quả tài nguyên sinh vật biển thông qua việc lập kế hoạch có sự tham gia, quản lý tri thức và xây dựng năng lực nhằm phổ biến kiến thức, các cơ sở khoa học và công nghệ liên quan đến đa dạng sinh học biển, giá trị tài nguyên sinh vật biển; chức năng, hiện trạng, xu hướng, hậu quả của sự suy giảm được chia sẻ sẽ được chuyển giao và áp dụng rộng rãi; huy động hiệu quả các nguồn lực tài chính để thực hiện có hiệu quả các kế hoạch, chiến lược khai thác sử dụng tài nguyên sinh vật biển, đặc biệt là lĩnh vực thủy sản phù hợp với quá trình củng cố và thống nhất trong chiến lược tài nguyên chung của quốc gia
Đường sắt tốc độ cao (ĐSTĐC) Bắc - Nam là dự án trọng điểm quốc gia, có ý nghĩa hết sức quan trọng, góp phần phát triển kinh tế - xã hội, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Trong đó, việc tiếp nhận chuyển giao công nghệ, phát triển công nghiệp và đào tạo nguồn nhân lực là một trong những yếu tố quan trọng đảm bảo quá trình đầu tư, vận hành, khai thác hiệu quả và từng bước đưa đường sắt tốc độ cao trở thành động lực phát triển của nền kinh tế.
Ngày 9/1 tại Hà Nội, Trường Đại học Giao thông vận tải (GTVT) phối hợp Trường Đại học Giao thông Tây Nam (Trung Quốc) tổ chức Hội thảo quốc tế Xây dựng đường sắt tốc độ cao tại Việt Nam và Kinh nghiệm của Trung Quốc.
Tại Việt Nam, chi phí logistics trung bình ở mức tương đương 16,8 - 17% GDP và vẫn còn ở mức khá cao so với mức bình quân chung của thế giới (khoảng 10,6%). Với tốc độ tăng lượng hàng hóa nêu trên, nếu cơ sở hạ tầng logistics và tính kết nối giữa các phương thức vận tải không được cải thiện sẽ không thể đáp ứng được nhu cầu vận tải, tình trạng tắc nghẽn các tuyến đường dẫn vào cảng biển chính sẽ ngày càng nghiêm trọng, khi đó chi phí logistics có thể tăng cao hơn so với thời điểm hiện tại, nếu không có giải pháp vận tải lâu dài, bền vững.
Tiêu chuẩn kỹ thuật số 44 (UN Regulation No.44 - UN R44) và Tiêu chuẩn kỹ thuật số 129 (UN Regulation No.129 - UN R129) do Ủy ban Kinh tế Liên hợp quốc về châu Âu (UNECE) ban hành cho hệ thống thiết bị an toàn của trẻ em trên xe ô tô. Hai tiêu chuẩn này được trình bày và so sánh với nhau để làm rõ tính ứng dụng thực tế vào Việt Nam. Bên cạnh đó, tình hình áp dụng hai tiêu chuẩn này trên thế giới và cụ thể tại Malaysia được trình bày chi tiết. Hiện tại, Việt Nam nên áp dụng đồng thời cả hai tiêu chuẩn để khuyến khích người đi ô tô sử dụng ghế trẻ em theo khả năng tài chính và nhu cầu an toàn; đồng thời nên có định hướng dẫn chuyển hoàn toàn sang UN R129.
Theo Cục Đăng kiểm VN, 5 thông tư mới về lĩnh vực đăng kiểm cùng có hiệu lực từ 1/1/2025, nhằm đồng bộ hóa về thời gian với Luật Trật tự, ATGT đường bộ.
6 quốc gia dọc tuyến sông Lan Thương – Mê Kông đang hướng đến xây dựng, áp dụng các quy định chung về giao thông thủy trên tuyến sông này; tiến tới thiết lập mạng lưới vận tải thủy xuyên suốt 4 nước.
Bình luận
Thông báo
Bạn đã gửi thành công.