![]() |
Hội nghị Chống biến đổi khí hậu tại Paris đã đề ra nhiều giải pháp để giảm thiểu lượng khí carbon mà chúng ta thải ra môi trường. Lớp khí CO2 bao bọc Trái Đất là tấm chăn giữ ấm cho hành tinh của chúng ta, nhưng với việc “đắp thêm chăn” vô tội vạ của chúng ta cho Trái Đất, thì chúng ta còn phải đối mặt với thêm nhiều vấn đề nóng lên toàn cầu nữa.
Những năm vừa qua, việc nóng lên toàn cầu đang đạt mức báo động, băng hai cực đang tan dần và nước biển đang dâng cao. Hậu quả đang dần đến gần ngưỡng cửa của từng quốc gia.
Một trong những biện pháp có thể sử dụng là “gửi trả lại” một phần năng lượng Mặt Trời, đưa chúng trở lại không gian. Phương pháp này có tên Quản Lý Phóng Xạ Mặt Trời (Solar Radiation Management – SRM), và đây là biện pháp sử dụng công nghệ để chống lại hiện tượng ấm lên toàn cầu khả thi nhất tính tới thời điểm này.
Ví dụ, chúng ta có thể phun nước biển vào bầu khí quyển, tạo nên những đám mây mới, đây là một cách rất hiệu quả để phản lại nhiệt lượng mặt trời tỏa ra. Vài kế hoạch khác đề cập tới việc đặt gương bên ngoài vũ trụ, để chúng ở nơi trọng lực giữa Trái Đất và Mặt Trời cân bằng. Lượng gương vũ trụ này có thể phản chiếu lại 2% ánh sáng Mặt Trời chiếu xuống, nhưng kế hoạch này gặp phải rào cản tài chính rất lớn.
Có lẽ rằng giải pháp có thể sử dụng ngay lập tức là phun những phân tử nhỏ lên tầng bình lưu (khoảng 20km trên không). Để có thể tối đa hóa lượng ánh nắng có thể phản chiếu lại, các phân tử này phải có bề mặt ít nhất bằng 0.5 micromet.
Chúng ta đã biết rằng, bụi núi lửa từ những đợt phun trào lớn có giảm nhiệt độ toàn hành tinh. Điển hình như vụ phun trào năm 1991 của núi lửa Pinatubo tại Phillippines. Khoảng 10 tấn sulfur dioxide bị thải vào khí quyển, chúng nhanh chóng hình thành nên những giọt acid sulfuric trong tầng bình lưu. Những hạt này phản lại ánh nắng Mặt Trời và làm nhiệt độ Trái Đất giảm đi. Trong vòng một năm sau sự kiện núi lửa Pinatubo phun trào, nhiệt độ Trái Đất giảm khoảng 0.4 độ C và rồi quay lại bình thường ít lâu sau đó.
Hiện giờ thì chúng ta cũng có được một công nghệ “điên rồ” như vậy: có thể bơm những phân tử titanium dioxide lên khí quyển bằng những cái vòi lớn, đưa lên cao nhờ một khí cầu helium. Nhưng kế hoạch này nhanh chóng bị phá sản bởi một lý do nghe buồn cười nhưng lại rất hợp lý: nhỡ đâu kế hoạch này thành công mĩ mãn, thì chẳng hóa ra chúng ta không cần phải cắt giảm lượng khí thải nữa à?
Rất nhiều vấn đề nảy sinh trong những kế hoạch sử dụng khoa học để can thiệp vào vấn đề khí hậu. Vấn đề quan trọng bậc nhất là chúng ta chỉ có một Trái Đất để thử nghiệm thôi, nếu như kế hoạch mà “tạch”, ta sẽ phải làm gì? Lời xin lỗi muộn màng không thể mua cho chúng ta một Trái Đất số 2 để mà thử nghiệm tiếp được. Phương pháp phải thực hiện luôn, phương pháp phải thực hiện về lâu dài ngay trước mắt chúng ta hiện tại là phải cắt giảm lượng khí thải ra môi trường ngay lập tức.
Có thể rằng cái kế hoạch “che lấp Mặt Trời” này sẽ níu kéo lại cho chúng ta ít thời gian nữa để tìm ra thêm các giải pháp. Nhưng nó hoàn toàn không thể là giải pháp lâu dài hay một giải pháp dứt điểm được những vấn nạn khí hậu mà ta phải đối mặt này được. Hãy bảo vệ Trái Đất trước khi mọi chuyện quá muộn.
Đường sắt tốc độ cao (ĐSTĐC) Bắc - Nam là dự án trọng điểm quốc gia, có ý nghĩa hết sức quan trọng, góp phần phát triển kinh tế - xã hội, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Trong đó, việc tiếp nhận chuyển giao công nghệ, phát triển công nghiệp và đào tạo nguồn nhân lực là một trong những yếu tố quan trọng đảm bảo quá trình đầu tư, vận hành, khai thác hiệu quả và từng bước đưa đường sắt tốc độ cao trở thành động lực phát triển của nền kinh tế.
Ngày 9/1 tại Hà Nội, Trường Đại học Giao thông vận tải (GTVT) phối hợp Trường Đại học Giao thông Tây Nam (Trung Quốc) tổ chức Hội thảo quốc tế Xây dựng đường sắt tốc độ cao tại Việt Nam và Kinh nghiệm của Trung Quốc.
Tại Việt Nam, chi phí logistics trung bình ở mức tương đương 16,8 - 17% GDP và vẫn còn ở mức khá cao so với mức bình quân chung của thế giới (khoảng 10,6%). Với tốc độ tăng lượng hàng hóa nêu trên, nếu cơ sở hạ tầng logistics và tính kết nối giữa các phương thức vận tải không được cải thiện sẽ không thể đáp ứng được nhu cầu vận tải, tình trạng tắc nghẽn các tuyến đường dẫn vào cảng biển chính sẽ ngày càng nghiêm trọng, khi đó chi phí logistics có thể tăng cao hơn so với thời điểm hiện tại, nếu không có giải pháp vận tải lâu dài, bền vững.
Tiêu chuẩn kỹ thuật số 44 (UN Regulation No.44 - UN R44) và Tiêu chuẩn kỹ thuật số 129 (UN Regulation No.129 - UN R129) do Ủy ban Kinh tế Liên hợp quốc về châu Âu (UNECE) ban hành cho hệ thống thiết bị an toàn của trẻ em trên xe ô tô. Hai tiêu chuẩn này được trình bày và so sánh với nhau để làm rõ tính ứng dụng thực tế vào Việt Nam. Bên cạnh đó, tình hình áp dụng hai tiêu chuẩn này trên thế giới và cụ thể tại Malaysia được trình bày chi tiết. Hiện tại, Việt Nam nên áp dụng đồng thời cả hai tiêu chuẩn để khuyến khích người đi ô tô sử dụng ghế trẻ em theo khả năng tài chính và nhu cầu an toàn; đồng thời nên có định hướng dẫn chuyển hoàn toàn sang UN R129.
Theo Cục Đăng kiểm VN, 5 thông tư mới về lĩnh vực đăng kiểm cùng có hiệu lực từ 1/1/2025, nhằm đồng bộ hóa về thời gian với Luật Trật tự, ATGT đường bộ.
6 quốc gia dọc tuyến sông Lan Thương – Mê Kông đang hướng đến xây dựng, áp dụng các quy định chung về giao thông thủy trên tuyến sông này; tiến tới thiết lập mạng lưới vận tải thủy xuyên suốt 4 nước.
Bình luận
Thông báo
Bạn đã gửi thành công.