Hiện nay tình trạng ô nhiễm môi trường ngày càng gia tăng nên việc phát triển các dịch vụ và sản phẩm thân thiện với môi trường đang trở thành nhu cầu tất yếu. Việc cắt giảm khí thải gây hiệu ứng nhà kính, sử dụng hiệu quả tiết kiệm năng lượng, trong đó việc phát triển các phương tiện giao thông công cộng và tạo được thói quen tham gia giao thông thân thiện với môi trường là phù hợp với xu thế hiện nay.
Thực tế cho thấy các phương tiện giao thông vận tải đang là nguyên nhân chính gây ra ô nhiễm môi trường không khí ở nước ta. Theo số liệu thống kê tính đến cuối năm 2015 số lượng mô tô, xe máy đã đăng ký ở Việt Nam là 43 triệu chiếc. Sự gia tăng xe máy, ô tô tạo ra mức độ ô nhiễm không khí nghiêm trọng, nhất là ở đô thị, 70% nguyên nhân gây ra ô nhiễm môi trường không khí là do hoạt động giao thông vận tải. Điều đáng nói là hầu hết ô tô, xe máy lưu hành ở nước ta đều chưa được kiểm soát khí thải một cách nghiêm ngặt và không được bảo dưỡng, sửa chữa trong quá trình sử dụng nên mức phát thải và tiêu hao nhiên liệu lớn. Ý thức bảo vệ môi trường của người dân còn quá thấp; đa số người dân đều không hiểu rõ tác hại của khí thải. Đây cũng là một trong những nguyên nhân làm cho mức độ ô nhiễm không khí ở nhiều thành phố đang ngày càng nghiêm trọng, đe dọa tới sức khỏe con người, ảnh hưởng đến chất lượng môi trường sống.
![]() |
| Xe bus đang dần trở thành sự lựa chọn hợp lý của người dân khi tham gia giao thông |
Chính vì vậy để giảm thiểu lượng khí thải, nhiều nước tiên tiến trên thế giới đã đưa ra các giải pháp thay thế phương tiện cá nhân bằng việc sử dụng phương tiện giao thông công cộng như xe bus, tàu điện…Với những lợi thế riêng, xe bus cũng là phương án vận tải hành khách được quan tâm phát triển. Lợi ích của việc sử dụng xe bus làm phương tiện đi lại hàng ngày là dễ tiếp cận, giá vé rẻ, đúng giờ, đưa đón hành khách với mật độ cao…Phương tiện xe bus còn có những ưu điểm khác như hệ thống xe hiện đại, có làn đường dành riêng hoặc đường ưu tiên, an toàn. Ở nước ta, hệ thống xe bus tại các thành phố lớn như Hà Nội, Tp Hồ Chí Minh đã và đang được các nhà hoạch định chính sách quan tâm phát triển, nhằm tạo ra sự thuận tiện cho người dân trong đi lại, làm việc. Mặt khác, nhà nước đã và đang nghiên cứu các chính sách ưu tiên phát triển hệ thống vận tải xe bus bằng cách trợ giá thường xuyên, ổn định; miễn các loại thuế nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt, miễn phí bến bãi, phí qua cầu...
Theo thống kê năm 2014 số lượng phương tiện cá nhân của tỉnh Quảng Trị đã lên đến 23.643 các loại ô tô, xe máy…, trong khi đó kết cấu hạ tầng đường sá chưa đồng bộ. Đây là một trong những áp lực đối với vấn đề ô nhiễm môi trường không khí ở khu vực đô thị. Với mục tiêu cải thiện giao thông công cộng, đáp ứng nhu cầu đi lại của người dân trong tỉnh, đưa ra các giải pháp tích cực trong việc giảm thiểu phương tiện giao thông cá nhân, giảm thiểu áp lực ô nhiễm môi trường, thời gian qua tỉnh Quảng Trị đã đưa vào hoạt động tuyến xe bus đầu tiên vào tháng 1/2016. Hiện tại, Quảng Trị có 2 tuyến xe bus bao gồm:Thành phố Đông Hà-thị trấn Hồ Xá (Vĩnh Linh) dài 32 km và thành phố Đông Hà-thị trấn Hải Lăng (Hải Lăng) dài 40 km. Các tuyến được bố trí 6-8 xe từ 20 đến 40 chỗ ngồi tham gia, có tần suất hoạt động 30-45 phút/ chuyến, thời gian mở bến vào mùa hè là 5 giờ và mùa đông 5 giờ 30, thời gian đóng bến 20 giờ (mùa hè) và 19 giờ (mùa đông). Ưu điểm rõ nét nhất là tính an toàn và thuận tiện của các phương tiện giao thông công cộng và quan trọng hơn với việc sử dụng xe bus, chúng ta không chỉ bảo vệ sức khỏe của mình mà còn góp phần không nhỏ vào việc hạn chế khí thải thải ra môi trường, giảm hiệu ứng nhà kính. Để xe bus thực sự thân thiện với người dân, điều quan tâm hiện nay là công tác lập quy hoạch và tổ chức mạng lưới tuyến xe bus đô thị kết nối với các loại phương tiện khác một cách hợp lý nhất. Ngoài ra, để khuyến khích, tạo điều kiện cho người dân tiếp cận gần hơn với dịch vụ xe bus, hướng tới giảm sử dụng phương tiện cá nhân, các nhà quản lý đô thị cần quan tâm tới các giải pháp có tính đồng bộ, dài hạn và bền vững, trong đó quan trọng nhất là cải thiện cơ sở hạ tầng giao thông và tích cực tuyên truyền để thay đổi thói quen, nhận thức của người dân trong lựa chọn phương tiện.
Bà Tống Thị Hà, trú tại thị trấn Hồ Xá, Vĩnh Linh có mấy người con sinh sống và làm việc ở thành phố Đông Hà. Trước đây mỗi tuần bà phải vất vả đi bằng xe máy hoặc xe khách để vô ra chăm cháu. Kể từ khi có phương tiện xe bus, bà cảm thấy rất thuận lợi trong việc đi lại. “Đi xe bus vừa nhanh, giá rẻ bằng 1/2 xe khách, đưa đón chu đáo, tài xế lái xe cẩn thận nên tôi cảm thấy rất an toàn và thuận lợi”, bà Hà nói.
Một khi dịch vụ vận tải công cộng bằng xe bus có chất lượng phục vụ tốt, thuận tiện, đủ sức hấp dẫn, các cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia giao thông thấy rõ lợi ích của việc sử dụng xe bus thì khi đó phương tiện này mới thực sự phát huy hết hiệu quả và ý nghĩa về mặt kinh tế và môi trường. Với những nỗ lực của các ban, ngành chức năng, hệ thống giao thông trong tỉnh sẽ dần thay đổi, đặc biệt là tạo sự chuyển biến về nhận thức và thói quen của người dân trong việc sử dụng phương tiện giao thông công cộng như xe bus để góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống và bảo vệ môi trường.
Đường sắt tốc độ cao (ĐSTĐC) Bắc - Nam là dự án trọng điểm quốc gia, có ý nghĩa hết sức quan trọng, góp phần phát triển kinh tế - xã hội, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Trong đó, việc tiếp nhận chuyển giao công nghệ, phát triển công nghiệp và đào tạo nguồn nhân lực là một trong những yếu tố quan trọng đảm bảo quá trình đầu tư, vận hành, khai thác hiệu quả và từng bước đưa đường sắt tốc độ cao trở thành động lực phát triển của nền kinh tế.
Ngày 9/1 tại Hà Nội, Trường Đại học Giao thông vận tải (GTVT) phối hợp Trường Đại học Giao thông Tây Nam (Trung Quốc) tổ chức Hội thảo quốc tế Xây dựng đường sắt tốc độ cao tại Việt Nam và Kinh nghiệm của Trung Quốc.
Tại Việt Nam, chi phí logistics trung bình ở mức tương đương 16,8 - 17% GDP và vẫn còn ở mức khá cao so với mức bình quân chung của thế giới (khoảng 10,6%). Với tốc độ tăng lượng hàng hóa nêu trên, nếu cơ sở hạ tầng logistics và tính kết nối giữa các phương thức vận tải không được cải thiện sẽ không thể đáp ứng được nhu cầu vận tải, tình trạng tắc nghẽn các tuyến đường dẫn vào cảng biển chính sẽ ngày càng nghiêm trọng, khi đó chi phí logistics có thể tăng cao hơn so với thời điểm hiện tại, nếu không có giải pháp vận tải lâu dài, bền vững.
Tiêu chuẩn kỹ thuật số 44 (UN Regulation No.44 - UN R44) và Tiêu chuẩn kỹ thuật số 129 (UN Regulation No.129 - UN R129) do Ủy ban Kinh tế Liên hợp quốc về châu Âu (UNECE) ban hành cho hệ thống thiết bị an toàn của trẻ em trên xe ô tô. Hai tiêu chuẩn này được trình bày và so sánh với nhau để làm rõ tính ứng dụng thực tế vào Việt Nam. Bên cạnh đó, tình hình áp dụng hai tiêu chuẩn này trên thế giới và cụ thể tại Malaysia được trình bày chi tiết. Hiện tại, Việt Nam nên áp dụng đồng thời cả hai tiêu chuẩn để khuyến khích người đi ô tô sử dụng ghế trẻ em theo khả năng tài chính và nhu cầu an toàn; đồng thời nên có định hướng dẫn chuyển hoàn toàn sang UN R129.
Theo Cục Đăng kiểm VN, 5 thông tư mới về lĩnh vực đăng kiểm cùng có hiệu lực từ 1/1/2025, nhằm đồng bộ hóa về thời gian với Luật Trật tự, ATGT đường bộ.
6 quốc gia dọc tuyến sông Lan Thương – Mê Kông đang hướng đến xây dựng, áp dụng các quy định chung về giao thông thủy trên tuyến sông này; tiến tới thiết lập mạng lưới vận tải thủy xuyên suốt 4 nước.
Bình luận
Thông báo
Bạn đã gửi thành công.