Nghiên cứu tối ưu số nơ-ron trong mạng thần kinh nhân tạo để dự đoán lực liên kết giữa tấm FRP với bê tông

sao sao sao sao sao
29/01/2021 11:04

Hiện nay, kết cấu bê tông cốt thép (BTCT) đã và đang được sử dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực xây dựng. Qua quá trình khai thác và sử dụng, các vết nứt xuất hiện với bề rộng và mật độ lớn hơn giới hạn cho phép, dẫn đến cốt thép bị ăn mòn và làm cho kết cấu bị suy giảm về khả năng chịu lực.

 Tác giả: TS. NGUYỄN THÙY ANH; TS. LÝ HẢI BẰNG
               Trường Đại học Công nghệ Giao thông vận tải
               ThS. NGUYỄN TRỌNG ANH MINH
               Tổng công ty Cảng Hàng không Việt Nam

 

3-1
Sơ đồ minh họa thí nghiệm xác định lực liên kết giữa tấm FRP với bề mặt bê tông: (a) mặt cắt ngang, (b) mặt cắt dọc 

Trong thời gian gần đây, việc sử dụng kết cấu sợi polyme (Fiber Reinforced Polymers - FRP) dạng tấm để gia cường cho kết cấu BTCT là một giải pháp được áp dụng phổ biến. Vật liệu FRP là một dạng vật liệu composite, được chế tạo từ các cốt liệu sợi kết hợp với chất kết dính, trong đó ba loại sợi được sử dụng nhiều nhất là sợi carbon (CFRP), sợi thủy tinh (GFRP) và sợi aramid (AFRP). Đặc tính của các loại sợi này là có cường độ chịu kéo cao, mô-đun đàn hồi lớn, trọng lượng nhỏ, khả năng chống mài mòn cao, cách điện, chịu nhiệt tốt và bền theo thời gian. Hơn nữa, tính linh hoạt và khả năng thi công cao khi dán tấm FRP bên ngoài kết cấu bê tông đem lại nhiều lợi thế trong các ứng dụng cơ sở hạ tầng giao thông và dân dụng, vì tấm dán FRP có thể liên kết dễ dàng với các kết cấu có mặt cắt ngang bất kỳ [1,2]. Hiệu quả của việc gia cố bên ngoài bằng tấm dán FRP về bản chất phụ thuộc vào khả năng liên kết giữa tấm FRP và bề mặt bê tông. Liên kết này đóng một vai trò quan trọng trong việc truyền ứng suất giữa bê tông và các tấm FRP, đồng thời là yếu tố chính để kiểm soát các hư hỏng do kết dính ở nhiều dạng khác nhau trong kết cấu được gia cường FRP.

Nhiều nghiên cứu thực nghiệm đã được thực hiện để khảo sát cường độ của liên kết bằng cách sử dụng các thử nghiệm cắt một vòng [3,4]. Ngoài ra, nhiều nghiên cứu lý thuyết đã được đề xuất bằng cách sử dụng các phương pháp khác nhau như cơ học phá hủy, phương pháp phần tử hữu hạn hoặc các phương trình rút ra từ thực nghiệm để xác định cường độ liên kết của tấm FRP với bề mặt bê tông [5-7]. Tuy nhiên, các phương pháp thực nghiệm cũng như phương pháp số phải dùng đến một số giả thiết, cũng như nhiều giới hạn sử dụng được đặt ra cho từng trường hợp cụ thể, qua đó mất đi tính tổng quát.

Gần đây, sự phát triển và ứng dụng của kỹ thuật học máy (machine learning) trong lĩnh vực xây dựng công trình đã được quan tâm rộng rãi [8-10]. Tận dụng cơ sở dữ liệu được thử nghiệm, các thuật toán học máy thể hiện khả năng đơn giản hóa các phương pháp tiếp cận cổ điển, chẳng hạn như phương pháp thử nghiệm hoặc mô phỏng số. Chính vì vậy, mục tiêu chính của nghiên cứu này là đề xuất mô hình học máy phù hợp để dự đoán lực liên kết giữa tấm FRP với bề mặt bê tông dựa trên bộ dữ liệu gồm 150 kết quả thí nghiệm thu thập được trên các tạp chí quốc tế uy tín.

Mời độc giả xem nội dung đầy đủ bài khoa học tại đây

Ý kiến của bạn

Bình luận

Phát triển nguồn nhân lực cho xây dựng, vận hành đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam

Phát triển nguồn nhân lực cho xây dựng, vận hành đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam

Đường sắt tốc độ cao (ĐSTĐC) Bắc - Nam là dự án trọng điểm quốc gia, có ý nghĩa hết sức quan trọng, góp phần phát triển kinh tế - xã hội, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Trong đó, việc tiếp nhận chuyển giao công nghệ, phát triển công nghiệp và đào tạo nguồn nhân lực là một trong những yếu tố quan trọng đảm bảo quá trình đầu tư, vận hành, khai thác hiệu quả và từng bước đưa đường sắt tốc độ cao trở thành động lực phát triển của nền kinh tế.

Hội thảo quốc tế Xây dựng đường sắt tốc độ cao ở Việt Nam và Kinh nghiệm từ Trung Quốc

Hội thảo quốc tế Xây dựng đường sắt tốc độ cao ở Việt Nam và Kinh nghiệm từ Trung Quốc

Ngày 9/1 tại Hà Nội, Trường Đại học Giao thông vận tải (GTVT) phối hợp Trường Đại học Giao thông Tây Nam (Trung Quốc) tổ chức Hội thảo quốc tế Xây dựng đường sắt tốc độ cao tại Việt Nam và Kinh nghiệm của Trung Quốc.

Phát triển đường thuỷ nội địa - Giải pháp giảm bền vững chi phí logistics

Phát triển đường thuỷ nội địa - Giải pháp giảm bền vững chi phí logistics

Tại Việt Nam, chi phí logistics trung bình ở mức tương đương 16,8 - 17% GDP và vẫn còn ở mức khá cao so với mức bình quân chung của thế giới (khoảng 10,6%). Với tốc độ tăng lượng hàng hóa nêu trên, nếu cơ sở hạ tầng logistics và tính kết nối giữa các phương thức vận tải không được cải thiện sẽ không thể đáp ứng được nhu cầu vận tải, tình trạng tắc nghẽn các tuyến đường dẫn vào cảng biển chính sẽ ngày càng nghiêm trọng, khi đó chi phí logistics có thể tăng cao hơn so với thời điểm hiện tại, nếu không có giải pháp vận tải lâu dài, bền vững.

Tiêu chuẩn thiết bị an toàn cho trẻ em trên ô tô, kinh nghiệm thế giới và hướng áp dụng ở Việt Nam

Tiêu chuẩn thiết bị an toàn cho trẻ em trên ô tô, kinh nghiệm thế giới và hướng áp dụng ở Việt Nam

Tiêu chuẩn kỹ thuật số 44 (UN Regulation No.44 - UN R44) và Tiêu chuẩn kỹ thuật số 129 (UN Regulation No.129 - UN R129) do Ủy ban Kinh tế Liên hợp quốc về châu Âu (UNECE) ban hành cho hệ thống thiết bị an toàn của trẻ em trên xe ô tô. Hai tiêu chuẩn này được trình bày và so sánh với nhau để làm rõ tính ứng dụng thực tế vào Việt Nam. Bên cạnh đó, tình hình áp dụng hai tiêu chuẩn này trên thế giới và cụ thể tại Malaysia được trình bày chi tiết. Hiện tại, Việt Nam nên áp dụng đồng thời cả hai tiêu chuẩn để khuyến khích người đi ô tô sử dụng ghế trẻ em theo khả năng tài chính và nhu cầu an toàn; đồng thời nên có định hướng dẫn chuyển hoàn toàn sang UN R129.

5 thông tư mới lĩnh vực đăng kiểm cùng có hiệu lực từ 1/1/2025

5 thông tư mới lĩnh vực đăng kiểm cùng có hiệu lực từ 1/1/2025

Theo Cục Đăng kiểm VN, 5 thông tư mới về lĩnh vực đăng kiểm cùng có hiệu lực từ 1/1/2025, nhằm đồng bộ hóa về thời gian với Luật Trật tự, ATGT đường bộ.

Đề xuất thiết lập tuyến vận tải thủy xuyên suốt 4 nước dọc sông Mê Kông

Đề xuất thiết lập tuyến vận tải thủy xuyên suốt 4 nước dọc sông Mê Kông

6 quốc gia dọc tuyến sông Lan Thương – Mê Kông đang hướng đến xây dựng, áp dụng các quy định chung về giao thông thủy trên tuyến sông này; tiến tới thiết lập mạng lưới vận tải thủy xuyên suốt 4 nước.