![]() |
Hai thập kỷ trước, ông John Browne, sau đó là Giám đốc điều hành của công ty dầu khí London BP, đã cảnh báo về mối liên hệ không thể xem nhẹ giữa khí thải carbon nhân tạo và sự nóng lên toàn cầu, và kêu gọi hành động chống biến đổi khí hậu. Tuy nhiên, thời điểm đó, lời nói của ông Browne như rơi vào khoảng không, các đồng nghiệp không ủng hộ ông.
Hiện tại, hầu hết các công ty dầu khí lớn không còn phủ nhận mối liên hệ giữa việc đốt nhiên liệu hóa thạch và biến đổi khí hậu. Trên thực tế, họ đang tranh giành vị trí trong cuộc đua tìm kiếm giải pháp cho mối đe dọa toàn cầu này.
Royal Dutch Shell, công ty dầu mỏ châu Âu, Total của Pháp và các công ty khác đang đầu tư vào năng lượng sạch. Một số công ty đã thành lập tổ chức Oil and Gas Climate Initiative, đầu tư vào các công nghệ carbon thấp và giảm khí nhà kính, khí metan.
Thay đổi khí hậu có thể gây rủi ro cho ngành công nghiệp dầu khí, theo nhà phân tích Neil Beveridge tại Bernstein, một công ty nghiên cứu ở Phố Wall.
Tuy nhiên, lượng dầu đang đang được sử dụng hiện nay đã tăng khoảng 1/3 so với cuối những năm 1990, chủ yếu là do số lượng người tiêu dùng ở các nước như Trung Quốc và Ấn Độ ngày càng tăng tỷ lệ thuận với mức độ sử dụng các phương tiện như ô tô, máy bay và các sản phẩm làm từ nhựa gốc dầu.
Có sự hoài nghi về việc liệu thế giới có thể loại bỏ các nhiên liệu hóa thạch như dầu, khí đốt và than đá để duy trì nhiệt độ toàn cầu trong giới hạn an toàn. Cần có hàng nghìn tỷ USD để thay thế các hệ thống năng lượng hiện tại bằng gió và mặt trời, theo ông Beveridge.
Ông lưu ý tình huống đặc biệt trong ngành công nghiệp dầu khí: các công ty gần như bị xa lánh bởi các nhà môi trường và một số nhà đầu tư, nhưng đồng thời, dầu khí cũng cần thiết cho sự tồn tại của thế giới, ông nói.
Đối mặt với những tình huống khó xử này, các công ty dầu mỏ đang có những cách tiếp cận khá khác nhau. Shell, chẳng hạn, đang bỏ tiền vào các khoản đầu tư năng lượng thay thế, đặc biệt là điện gió.
Những khoản đầu tư này nhằm khẳng định vị trí của Shell trong thời đại bùng nổ năng lượng điện sạch cho các phương tiện và các mục đích sử dụng khác thay vì nhiên liệu hóa thạch.
Trong một cuộc phỏng vấn, Phó chủ tịch điều hành chiến lược Ed Daniels của Shell cho biết, để đạt được các mục tiêu của Thỏa thuận Paris 2015 về khí hậu, cần có một sự thay đổi lớn trong các hệ thống năng lượng - đang phát thải một lượng lớn khí nhà kính. Ông nhấn mạnh Shell muốn dẫu đầu sự thay đổi đó, một mục tiêu cơ bản cho sự thành công lâu dài của công ty.
Dự án Gorgon ở Tây Úc. Nhà máy LNG được vận hành bởi Chevron và là một liên doanh với các nhà sản xuất năng lượng khác. Nguồn: Chevron
Shell dường như không còn là một công ty dầu mỏ. Chevron của Mỹ, thay vào đó, đang tập trung vào các hoạt động dầu khí hiệu quả hơn và ít khí thải hơn. Chevron lập luận rằng sẽ là một sai lầm khi buộc các công ty đang hoạt động tốt phải giảm sản xuất dầu khí. Các nhà sản xuất có thể tăng sản lượng dầu khí của họ hiệu quả nhất trong khi vẫn đáp ứng các mục tiêu biến đổi khí hậu.
Bạn có thể tăng sản lượng nhiên liệu hóa thạch của mình, mang lại lợi nhuận vượt trội cho các cổ đông của bạn và vẫn tuân thủ Thảo thuận chung Paris, theo ông Michael Rubio, Tổng giám đốc của Chevron.
Các công ty đang đầu tư vào năng lượng xanh, nhưng phần lớn chi tiêu đang dành cho các dự án dầu khí sinh ra khí thải nhà kính.
Ông Fred Krupp, chủ tịch Quỹ Bảo vệ Môi trường, đã làm việc với ngành công nghiệp dầu khí để giảm khí thải nhà kính, cho rằng chi tiêu vốn và lời nói của các công ty dầu khí chưa đi đôi với nhau và họ cần phải thực hiện quá trình chuyển đổi.
Các nhà phân tích nói rằng Shell dẫn đầu các nhà sản xuất dầu lớn trong việc chuyển sang sử dụng năng lượng carbon thấp, nhưng vẫn có quan điểm rằng những bước đi của Shell thậm chí còn quá chậm để ngăn chặn thảm họa toàn cầu do Trái đất nóng lên gây mất kiểm soát mùa màng, tạo ra những cơn bão mạnh và những hiểm họa khôn lường khác.
Theo nhà phân tích Valentina Kretzschmar tại công ty nghiên cứu thị trường Wood Mackenzie, từ năm 2016 đến 2018, 7 công ty dầu khí lớn, bao gồm Shell và Exxon Mobil, đã chi 5,8 tỷ USD cho năng lượng thay thế. Shell cho biết họ đã lên kế hoạch chi từ 1 đến 2 tỷ USD mỗi năm cho đầu tư năng lượng mới, so với 25 tỷ USD trở lên trong tổng chi phí vốn.
Các khoản đầu tư này tương đối nhỏ, tại sao vậy? Bà Kretzschmar cho biết, bất kỳ khoản đầu tư lớn hơn nào cũng có thể gây ảnh hưởng tới các cổ đông. Các dự án năng lượng thay thế được xem là một hoạt động kinh doanh ít lợi nhuận hơn dầu khí.
Ông Daniels cho biết Shell đang nhắm đến lợi nhuận từ 8% đến 12% cho các khoản đầu tư năng lượng mới của công ty. Stuart Joyner, nhà phân tích tại công ty nghiên cứu thị trường Redburn, cho biết không có nhiều dự án năng lượng thay thế quy mô lớn có thể hấp thụ các khoản đầu tư khổng lồ mà các công ty dầu mỏ đang có thói quen thực hiện.
Một lĩnh vực đang được quan tâm là xây dựng các trang trại gió khổng lồ để phát điện. Trợ cấp của chính phủ đã giúp hoạt động này phát triển ở Bắc Âu và nó đang lan sang Mỹ và châu Á.
Các khoản đầu tư cần thiết cho năng lượng gió ngoài khơi sẽ rất lớn và một số công ty dầu khí bắt đầu tham gia. Equinor của Na Uy, trước đây là Statoil, là một bên của liên doanh đã giành được thỏa thuận sơ bộ vào ngày 20/9 để xây dựng trang trại gió lớn nhất thế giới tại Dogger Bank ở Biển Bắc, ngoài khơi miền đông nước Anh với tổng chi phí khoảng 11 tỷ USD.
Một số nhà đầu tư thừa nhận rằng các công ty dầu khí sẽ cần thêm thời gian để thay đổi. Đây sẽ là một quá trình chuyển đổi kéo dài nhiều năm. Khoảng cách giữa các công ty dầu mỏ và những gì các nhà đầu tư, các nhà môi trường mong đợi từ họ dường như chưa thể thu hẹp.
Đường sắt tốc độ cao (ĐSTĐC) Bắc - Nam là dự án trọng điểm quốc gia, có ý nghĩa hết sức quan trọng, góp phần phát triển kinh tế - xã hội, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Trong đó, việc tiếp nhận chuyển giao công nghệ, phát triển công nghiệp và đào tạo nguồn nhân lực là một trong những yếu tố quan trọng đảm bảo quá trình đầu tư, vận hành, khai thác hiệu quả và từng bước đưa đường sắt tốc độ cao trở thành động lực phát triển của nền kinh tế.
Ngày 9/1 tại Hà Nội, Trường Đại học Giao thông vận tải (GTVT) phối hợp Trường Đại học Giao thông Tây Nam (Trung Quốc) tổ chức Hội thảo quốc tế Xây dựng đường sắt tốc độ cao tại Việt Nam và Kinh nghiệm của Trung Quốc.
Tại Việt Nam, chi phí logistics trung bình ở mức tương đương 16,8 - 17% GDP và vẫn còn ở mức khá cao so với mức bình quân chung của thế giới (khoảng 10,6%). Với tốc độ tăng lượng hàng hóa nêu trên, nếu cơ sở hạ tầng logistics và tính kết nối giữa các phương thức vận tải không được cải thiện sẽ không thể đáp ứng được nhu cầu vận tải, tình trạng tắc nghẽn các tuyến đường dẫn vào cảng biển chính sẽ ngày càng nghiêm trọng, khi đó chi phí logistics có thể tăng cao hơn so với thời điểm hiện tại, nếu không có giải pháp vận tải lâu dài, bền vững.
Tiêu chuẩn kỹ thuật số 44 (UN Regulation No.44 - UN R44) và Tiêu chuẩn kỹ thuật số 129 (UN Regulation No.129 - UN R129) do Ủy ban Kinh tế Liên hợp quốc về châu Âu (UNECE) ban hành cho hệ thống thiết bị an toàn của trẻ em trên xe ô tô. Hai tiêu chuẩn này được trình bày và so sánh với nhau để làm rõ tính ứng dụng thực tế vào Việt Nam. Bên cạnh đó, tình hình áp dụng hai tiêu chuẩn này trên thế giới và cụ thể tại Malaysia được trình bày chi tiết. Hiện tại, Việt Nam nên áp dụng đồng thời cả hai tiêu chuẩn để khuyến khích người đi ô tô sử dụng ghế trẻ em theo khả năng tài chính và nhu cầu an toàn; đồng thời nên có định hướng dẫn chuyển hoàn toàn sang UN R129.
Theo Cục Đăng kiểm VN, 5 thông tư mới về lĩnh vực đăng kiểm cùng có hiệu lực từ 1/1/2025, nhằm đồng bộ hóa về thời gian với Luật Trật tự, ATGT đường bộ.
6 quốc gia dọc tuyến sông Lan Thương – Mê Kông đang hướng đến xây dựng, áp dụng các quy định chung về giao thông thủy trên tuyến sông này; tiến tới thiết lập mạng lưới vận tải thủy xuyên suốt 4 nước.
Bình luận
Thông báo
Bạn đã gửi thành công.