
Theo quy định mới vừa được Bộ GTVT ban hành, giá dịch vụ vận chuyển hành khách nội địa hạng phổ thông sẽ được định giá theo cự ly nhóm đường bay. Ảnh minh họa: Phan Công
Mới đây, Bộ trưởng Bộ GTVT ký ban hành Thông tư số 44/2024/TT - BGTVT quy định cơ chế, chính sách quản lý giá dịch vụ vận chuyển hàng không nội địa và giá dịch vụ chuyên ngành hàng không.
Theo đó, giá dịch vụ vận chuyển hành khách nội địa hạng phổ thông cơ bản bán trong lãnh thổ Việt Nam là giá dịch vụ hành khách phải trả cho hành trình sử dụng trong khoang phổ thông của tàu bay đối với hạng dịch vụ đáp ứng được yêu cầu cơ bản của đa số hành khách trên chuyến bay nội địa từ dịch vụ mặt đất cho đến dịch vụ trên không.
Theo quy định mới, giá dịch vụ vận chuyển hành khách nội địa hạng phổ thông sẽ được định giá theo cự ly nhóm đường bay.
Dịch vụ vận chuyển hành khách nội địa hạng phổ thông cơ bản bán trong lãnh thổ Việt Nam được định giá phân loại theo cự ly nhóm đường bay, bao gồm nhóm dưới 500km (nhóm đường bay phát triển kinh tế - xã hội và nhóm đường bay khác); nhóm từ 500km đến dưới 850km; nhóm từ 850km đến dưới 1.000km; nhóm từ 1.000km đến dưới 1.280km và nhóm từ 1.280km trở lên.
Mức giá tối đa dịch vụ quy định đã bao gồm toàn bộ chi phí hành khách phải trả cho 1 vé máy bay, không bao gồm các khoản thu: thuế giá trị gia tăng; các khoản thu hộ doanh nghiệp cung ứng dịch vụ nhà ga hành khách và dịch vụ đảm bảo an ninh, bao gồm: giá dịch vụ phục vụ hành khách tại cảng hàng không, sân bay; giá đảm bảo an ninh hành khách, hành lý và các khoản giá dịch vụ tăng thêm.
Thông tư số 44 quy định Cục Hàng không Việt Nam có trách nhiệm thẩm định phương án giá, báo cáo Bộ GTVT ban hành văn bản định giá đối với 4 loại dịch vụ gồm:
Một là, dịch vụ hàng không được định giá cụ thể: dịch vụ cất cánh, hạ cánh tàu bay; dịch vụ điều hành bay đi, đến; dịch vụ phục vụ hành khách tại cảng hàng không, sân bay; dịch vụ bảo đảm an ninh hàng không (dịch vụ bảo đảm an ninh 5 hành khách, hành lý; dịch vụ bảo đảm an ninh đối với hành khách bị từ chối nhập cảnh lưu lại từ 24 giờ trở lên; dịch vụ bảo đảm an ninh hàng hóa, bưu gửi; dịch vụ bảo đảm an ninh hàng hóa đã qua soi chiếu an ninh từ kho hàng hóa hàng không có cơ sở hạ tầng nằm ngoài phạm vi ranh giới cảng hàng không, sân bay vào khu vực hạn chế tại cảng hàng không; dịch vụ bảo đảm an ninh đối với phương tiện vận chuyển hàng hóa, thiết bị vào phục vụ trong khu vực hạn chế tại cảng hàng không, sân bay); dịch vụ điều hành bay qua vùng thông báo bay do Việt Nam quản lý.
Hai là, dịch vụ hàng không được định khung giá: dịch vụ cho thuê sân đậu tàu bay; dịch vụ cho thuê quầy làm thủ tục hành khách; dịch vụ cho thuê băng chuyền hành lý; dịch vụ cho thuê cầu dẫn khách lên, xuống máy bay; dịch vụ phục vụ kỹ thuật thương mại mặt đất trọn gói tại các cảng hàng không, sân bay (đối với các cảng hàng không còn áp dụng phương thức trọn gói); dịch vụ phân loại tự động hành lý đi; dịch vụ tra nạp xăng dầu hàng không; dịch vụ sử dụng hạ tầng hệ thống tra nạp ngầm cung cấp nhiên liệu tại cảng hàng không, sân bay; nhượng quyền khai thác dịch vụ hàng không tại cảng hàng không, sân bay, bao gồm các dịch vụ nhượng quyền: nhà ga hành khách; nhà ga, kho hàng hóa; phục vụ kỹ thuật thương mại mặt đất; sửa chữa, bảo dưỡng phương tiện, trang thiết bị hàng không; kỹ thuật hàng không; cung cấp suất ăn hàng không; cung cấp xăng dầu hàng không.
Ba là, dịch vụ phi hàng không được định khung giá: dịch vụ cho thuê mặt bằng tại nhà ga hành khách; dịch vụ cho thuê mặt bằng tại nhà ga hàng hóa; dịch vụ cơ bản thiết yếu tại cảng hàng không, sân bay.
Bốn là, dịch vụ vận chuyển hành khách hàng không nội địa hạng phổ thông cơ bản bán trong lãnh thổ Việt Nam được định giá tối đa.
Được biết, theo quy định hiện hành, khung giá dịch vụ vận chuyển hành khách trên các đường bay nội địa được quy định theo nhóm đường bay và quy định mức giá trần.
Cụ thể, nhóm dưới 500km (nhóm đường bay phát triển kinh tế - xã hội và nhóm đường bay khác) có mức giá tối đa từ 1,6 - 1,7 triệu đồng/vé/chiều.
Nhóm đường bay từ 500km đến dưới 850km có mức tối đa là 2,250 triệu đồng/vé/chiều.
Nhóm đường bay từ 850km đến dưới 1.000km có mức tối đa là 2,890 triệu đồng/vé/chiều.
Nhóm đường bay từ 1.000km đến dưới 1.280 km có mức tối đa là 3,4 triệu đồng/vé/chiều.
Nhóm đường bay từ 1.280km trở lên có mức giá tối đa là 4 triệu đồng/vé/chiều.
Tag:
Trước yêu cầu cấp thiết của quá trình chuyển đổi xanh trong lĩnh vực giao thông vận tải, Bộ Xây dựng giao nhiệm vụ nghiên cứu, xây dựng Đề án phát triển mạng lưới trạm sạc cho xe ô tô sử dụng điện. Đây được xem là bước đi nền tảng nhằm hình thành hệ sinh thái hạ tầng đồng bộ, tạo lực đẩy cho phương tiện giao thông điện phát triển bền vững tại Việt Nam.
Vận tải
Thực hiện Đề án phát triển hệ thống GTVT công cộng bằng xe buýt sử dụng điện và năng lượng xanh, TP Hà Nội đang từng bước đẩy mạnh chuyển đổi phương tiện theo hướng hiện đại, thân thiện với môi trường, góp phần nâng cao chất lượng dịch vụ và giảm thiểu ô nhiễm không khí đô thị.
Vận tải
Sau giai đoạn thí điểm đạt kết quả tích cực, Tổng công ty Đường sắt Việt Nam (VNR) chính thức áp dụng tính năng “giá vé linh hoạt” trên hệ thống bán vé điện tử từ ngày 1/5/2026, sớm hơn kế hoạch khoảng hai tuần.
Vận tải
Đồng hành trên chuyến bay là Đại uý, cựu chiến binh Vũ Đăng Toàn – nguyên Chính trị viên Đại đội 4, người chỉ huy xe tăng 390 húc đổ cánh cổng Dinh Độc Lập vào trưa ngày 30/4/1975.
Vận tải
Theo Cục Đường bộ Việt Nam trong đợt nghỉ lễ 30/4 và 1/5 này sẽ có 21 trạm dừng nghỉ và điểm dừng xe trên cao tốc Bắc - Nam có công trình dịch vụ công thiết yếu đi vào hoạt động, với cự ly trung bình khoảng 100km/trạmphục vụ hành khách và lái xe.
Vận tải
Hệ thống giao thông thông minh (ITS) và thu phí điện tử không dừng trên hai tuyến cao tốc Vĩnh Hảo – Phan Thiết và Phan Thiết – Dầu Giây đang bộc lộ hàng loạt bất cập cả về công nghệ, dữ liệu và hạ tầng kỹ thuật. Những tồn tại này không chỉ ảnh hưởng đến hiệu quả khai thác mà còn tiềm ẩn nguy cơ thất thoát doanh thu, sai lệch số liệu và giảm tính minh bạch trong công tác thu phí.
Vận tải
Bình luận
Thông báo
Bạn đã gửi thành công.