
Học sinh, sinh viên chiếm một tỷ lệ lớn trong tai nạn giao thông đường bộ
Theo TS. Lê Thu Huyền, xã hội ngày càng phát triển, thu nhập của người dân tăng lên, cộng thêm với vận tải hành khách công cộng chưa phát huy được hiệu quả cần thiết, khiến cho thời gian gần đây phương tiện vận tải cá nhân gia tăng đột biến, đặc biệt tại các thành phố.
Việc gia tăng của phương tiện cá nhân đã gây áp lực rất lớn tới đời sống người dân đô thị, tiềm ẩn những nguy cơ lớn như tắc đường, ô nhiễm môi trường, tai nạn giao thông.
Trong điều kiện hạn chế về cơ sở hạ tầng, ý thức của người tham gia giao thông và quản lý giao thông là những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến sự gia tăng cả về số lượng và mức độ nghiêm trọng của tai nạn giao thông đường bộ ở nước ta.
Học sinh, sinh viên chiếm một tỷ lệ lớn trong tai nạn giao thông đường bộ. Điều này để lại hậu quả nghiêm trọng, tổn thất nặng nề đối với bản thân người bị nạn và toàn thể xã hội. Việc áp dụng các biện pháp an toàn giao thông cần được thực hiện đồng bộ để thu được hiệu quả triệt để đối với tất cả các thành phần của hệ thống giao thông.
Các hành vi vi phạm luật giao thông không chỉ có ảnh hưởng đến an toàn giao thông mà còn có tác động tới năng lực thông hành của hệ thống giao thông đường bộ. Bài báo giới thiệu phương thức tiếp cận nhằm phân tích mối quan hệ giữa nguyên nhân và hậu quả của hành vi vi phạm luật giao thông của học sinh sinh viên trong dòng giao thông hỗn hợp nhiều xe máy.
Ở Việt Nam trong hai thập kỷ qua, tốc độ cơ giới hóa nhanh chóng trong giao thông vận tải, đặc biệt là sự bùng nổ sử dụng xe gắn máy và các phương tiện cơ giới cá nhân khác, trong điều kiện hạn chế về cơ sở hạ tầng và đặc biệt là sự hạn chế trong ý thức của người điều khiển phương tiện và trình độ quản lý giao thông là những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến sự gia tăng cả về số lượng và mức độ nguy hiểm của tai nạn giao thông đường bộ.
Hầu hết các báo cáo của các cơ quan quản lý và các nghiên cứu khoa học đều cho rằng những hành vi gây mất an toàn giao thông của người điều khiển phương tiện là nguyên nhân chính của 70% số vụ tai nạn giao thông đường bộ.
Tuy nhiên cho đến nay, các nghiên cứu về hành vi gây mất an toàn giao thông ở Việt Nam đều chỉ mới dừng lại ở việc sử dụng các chỉ tiêu thống kê từ phân tích hồ sơ tai nạn của cảnh sát giao thông trong khi những hồ sơ gốc của các số liệu này thường rất khó tiếp cận vì những quy định về an ninh và tố tụng.
Hơn nữa, những kết quả phân tích hồ sơ tai nạn thường phụ thuộc vào đánh giá định tính và chủ quan của nhân viên khám nghiệm hiện trường, các nhà nghiên cứu chuyên môn về giao thông thường không thể can thiệp vào quá trình đánh giá mà chỉ đơn thuần sử dụng lại kết quả đánh giá. Trong khi đó, trong hoạt động tham gia giao thông hàng ngày trên đường và tại nút giao, những hành vi gây mất an toàn giao thông vẫn thường xuyên xảy ra tiềm ẩn nguy cơ gây tai nạn giao thông đồng thời trực tiếp làm giảm tốc độ và lưu lượng dòng giao thông.
Nghiên cứu về lý thuyết hành vi và khảo sát thực tế các hành vi vi phạm luật giao thông có thể xác định phương pháp phân tích rủi ro, phân tích chuỗi nguyên nhân - kết quả thực hiện hiệu quả trong phân tích các hành vi vi phạm luật giao thông, từ đó có thể xác định mối quan hệ trực tiếp giữa các hành vi vi phạm luật giao thông và tai nạn giao thông, giữa ý thức và nhận thức của lái xe với các hành vi nguy hiểm.
Cùng với đó là phương pháp có thể phát huy tác dụng ngay cả trong điều kiện thiếu dữ liệu. Đồng thời, có khả năng nâng cấp và mở rộng khi có thêm hiểu biết và dữ liệu; Có thể xây dựng mô hình định lượng đánh giá tác động của các biện pháp, chiến lược, chính sách an toàn giao thông trước khi triển khai thực tế; Đề xuất và đánh giá hiệu quả các giải pháp điều chỉnh hành vi trong dòng giao thông hỗn hợp nhiều xe máy.
Đường sắt tốc độ cao (ĐSTĐC) Bắc - Nam là dự án trọng điểm quốc gia, có ý nghĩa hết sức quan trọng, góp phần phát triển kinh tế - xã hội, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Trong đó, việc tiếp nhận chuyển giao công nghệ, phát triển công nghiệp và đào tạo nguồn nhân lực là một trong những yếu tố quan trọng đảm bảo quá trình đầu tư, vận hành, khai thác hiệu quả và từng bước đưa đường sắt tốc độ cao trở thành động lực phát triển của nền kinh tế.
Ngày 9/1 tại Hà Nội, Trường Đại học Giao thông vận tải (GTVT) phối hợp Trường Đại học Giao thông Tây Nam (Trung Quốc) tổ chức Hội thảo quốc tế Xây dựng đường sắt tốc độ cao tại Việt Nam và Kinh nghiệm của Trung Quốc.
Tại Việt Nam, chi phí logistics trung bình ở mức tương đương 16,8 - 17% GDP và vẫn còn ở mức khá cao so với mức bình quân chung của thế giới (khoảng 10,6%). Với tốc độ tăng lượng hàng hóa nêu trên, nếu cơ sở hạ tầng logistics và tính kết nối giữa các phương thức vận tải không được cải thiện sẽ không thể đáp ứng được nhu cầu vận tải, tình trạng tắc nghẽn các tuyến đường dẫn vào cảng biển chính sẽ ngày càng nghiêm trọng, khi đó chi phí logistics có thể tăng cao hơn so với thời điểm hiện tại, nếu không có giải pháp vận tải lâu dài, bền vững.
Tiêu chuẩn kỹ thuật số 44 (UN Regulation No.44 - UN R44) và Tiêu chuẩn kỹ thuật số 129 (UN Regulation No.129 - UN R129) do Ủy ban Kinh tế Liên hợp quốc về châu Âu (UNECE) ban hành cho hệ thống thiết bị an toàn của trẻ em trên xe ô tô. Hai tiêu chuẩn này được trình bày và so sánh với nhau để làm rõ tính ứng dụng thực tế vào Việt Nam. Bên cạnh đó, tình hình áp dụng hai tiêu chuẩn này trên thế giới và cụ thể tại Malaysia được trình bày chi tiết. Hiện tại, Việt Nam nên áp dụng đồng thời cả hai tiêu chuẩn để khuyến khích người đi ô tô sử dụng ghế trẻ em theo khả năng tài chính và nhu cầu an toàn; đồng thời nên có định hướng dẫn chuyển hoàn toàn sang UN R129.
Theo Cục Đăng kiểm VN, 5 thông tư mới về lĩnh vực đăng kiểm cùng có hiệu lực từ 1/1/2025, nhằm đồng bộ hóa về thời gian với Luật Trật tự, ATGT đường bộ.
6 quốc gia dọc tuyến sông Lan Thương – Mê Kông đang hướng đến xây dựng, áp dụng các quy định chung về giao thông thủy trên tuyến sông này; tiến tới thiết lập mạng lưới vận tải thủy xuyên suốt 4 nước.
Bình luận
Thông báo
Bạn đã gửi thành công.