Nghiên cứu tái cấu trúc mạng lưới tuyến vận tải hành khách công cộng bằng xe buýt trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh

sao sao sao sao sao
15/01/2023 17:11

Bài báo đánh giá hiện trạng, xác định các hành lang vận tải của mạng lưới vận tải hành khách công cộng (VTHKCC) bằng xe buýt trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh nhằm nghiên cứu quy hoạch mạng lưới tuyến, đề xuất tái cấu trúc mạng lưới tuyến vận tải hành khách bằng xe buýt trên địa bàn thành phố.

Nghiên cứu tái cấu trúc mạng lưới tuyến vận tải hành khách công cộng bằng xe buýt trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh - Ảnh 1.

Hiện nay, thành phố có 127 tuyến xe buýt (gồm 90 tuyến xe buýt có trợ giá và 37 tuyến xe buýt không trợ giá) với 2.261 phương tiện tham gia hoạt động. Trong năm vừa qua, có 6 tuyến xe buýt có trợ giá ngưng hoạt động (các tuyến số 2, 11, 17, 54, 63, 144) và chuyển 2 tuyến xe buýt trợ giá (số 13 và số 94) sang không trợ giá.

Trong năm 2020, sản lượng vận chuyển bị sụt giảm khoảng 40% so với cùng kỳ 2019 và chỉ đạt hơn 53% kế hoạch trong năm 2020. Một trong những nguyên nhân là cấu trúc mạng lưới tuyến chưa phù hợp. Để nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động vận tải xe buýt, cần thiết phải nghiên cứu tái cấu trúc và mở rộng mạng lưới tuyến xe buýt nhằm hình thành mạng lưới tuyến buýt hoạt động có hiệu quả. Mạng lưới tuyến sẽ hướng kết nối đến các khu đô thị mới, khu công nghiệp, đầu mối giao thông, các đô thị vệ tinh, các tuyến vận tải khách khối lượng lớn (Metro, BRT tương lai), các phương thức vận tải khác.

Nghiên cứu tái cấu trúc mạng lưới tuyến vận tải hành khách công cộng bằng xe buýt trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh - Ảnh 2.

* Đánh giá cấu trúc mạng lưới tuyến hiện hữu:

- Mạng lưới tuyến buýt hiện nay có dạng hướng tâm, kết nối trực tiếp từ khu vực ngoại vi đến trung tâm thành phố. Đặc điểm của mạng lưới này là chưa có sự phân cấp giữa các tuyến. Hầu hết các tuyến được xây dựng trên cơ sở nối kết trực tiếp giữa 2 điểm có nhu cầu đi lại. Điều này sẽ làm gia tăng số lượng các tuyến, mặc dù thuận tiện cho các chuyến đi trực tiếp nhưng sẽ hạn chế khả năng chuyển tiếp trên toàn mạng lưới.

- Điều quan trọng là cơ cấu và phân bố các khu vực chức năng đô thị hiện nay chưa hợp lý. Trên thực tế, mạng lưới tuyến xe buýt vẫn chưa tiếp cận được người dân do khoảng cách đi bộ quá xa. Bên cạnh đó là hệ thống các dịch vụ đô thị hiện vẫn đang được tổ chức với quy mô nhỏ và nằm rải rác theo kiểu truyền thống nên người dân ít có xu hướng sử dụng xe buýt cho các hành trình ngắn như đi chợ, mua sắm…

Với cấu trúc được trình bày như trên, cần thiết phải thực hiện quy hoạch tái cấu trúc mạng lưới tuyến VTHKCC bằng xe buýt.

Mời độc giả xem nội dung đầy đủ bài khoa học tại đây.

Ý kiến của bạn

Bình luận

Phát triển nguồn nhân lực cho xây dựng, vận hành đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam

Phát triển nguồn nhân lực cho xây dựng, vận hành đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam

Đường sắt tốc độ cao (ĐSTĐC) Bắc - Nam là dự án trọng điểm quốc gia, có ý nghĩa hết sức quan trọng, góp phần phát triển kinh tế - xã hội, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Trong đó, việc tiếp nhận chuyển giao công nghệ, phát triển công nghiệp và đào tạo nguồn nhân lực là một trong những yếu tố quan trọng đảm bảo quá trình đầu tư, vận hành, khai thác hiệu quả và từng bước đưa đường sắt tốc độ cao trở thành động lực phát triển của nền kinh tế.

Hội thảo quốc tế Xây dựng đường sắt tốc độ cao ở Việt Nam và Kinh nghiệm từ Trung Quốc

Hội thảo quốc tế Xây dựng đường sắt tốc độ cao ở Việt Nam và Kinh nghiệm từ Trung Quốc

Ngày 9/1 tại Hà Nội, Trường Đại học Giao thông vận tải (GTVT) phối hợp Trường Đại học Giao thông Tây Nam (Trung Quốc) tổ chức Hội thảo quốc tế Xây dựng đường sắt tốc độ cao tại Việt Nam và Kinh nghiệm của Trung Quốc.

Phát triển đường thuỷ nội địa - Giải pháp giảm bền vững chi phí logistics

Phát triển đường thuỷ nội địa - Giải pháp giảm bền vững chi phí logistics

Tại Việt Nam, chi phí logistics trung bình ở mức tương đương 16,8 - 17% GDP và vẫn còn ở mức khá cao so với mức bình quân chung của thế giới (khoảng 10,6%). Với tốc độ tăng lượng hàng hóa nêu trên, nếu cơ sở hạ tầng logistics và tính kết nối giữa các phương thức vận tải không được cải thiện sẽ không thể đáp ứng được nhu cầu vận tải, tình trạng tắc nghẽn các tuyến đường dẫn vào cảng biển chính sẽ ngày càng nghiêm trọng, khi đó chi phí logistics có thể tăng cao hơn so với thời điểm hiện tại, nếu không có giải pháp vận tải lâu dài, bền vững.

Tiêu chuẩn thiết bị an toàn cho trẻ em trên ô tô, kinh nghiệm thế giới và hướng áp dụng ở Việt Nam

Tiêu chuẩn thiết bị an toàn cho trẻ em trên ô tô, kinh nghiệm thế giới và hướng áp dụng ở Việt Nam

Tiêu chuẩn kỹ thuật số 44 (UN Regulation No.44 - UN R44) và Tiêu chuẩn kỹ thuật số 129 (UN Regulation No.129 - UN R129) do Ủy ban Kinh tế Liên hợp quốc về châu Âu (UNECE) ban hành cho hệ thống thiết bị an toàn của trẻ em trên xe ô tô. Hai tiêu chuẩn này được trình bày và so sánh với nhau để làm rõ tính ứng dụng thực tế vào Việt Nam. Bên cạnh đó, tình hình áp dụng hai tiêu chuẩn này trên thế giới và cụ thể tại Malaysia được trình bày chi tiết. Hiện tại, Việt Nam nên áp dụng đồng thời cả hai tiêu chuẩn để khuyến khích người đi ô tô sử dụng ghế trẻ em theo khả năng tài chính và nhu cầu an toàn; đồng thời nên có định hướng dẫn chuyển hoàn toàn sang UN R129.

5 thông tư mới lĩnh vực đăng kiểm cùng có hiệu lực từ 1/1/2025

5 thông tư mới lĩnh vực đăng kiểm cùng có hiệu lực từ 1/1/2025

Theo Cục Đăng kiểm VN, 5 thông tư mới về lĩnh vực đăng kiểm cùng có hiệu lực từ 1/1/2025, nhằm đồng bộ hóa về thời gian với Luật Trật tự, ATGT đường bộ.

Đề xuất thiết lập tuyến vận tải thủy xuyên suốt 4 nước dọc sông Mê Kông

Đề xuất thiết lập tuyến vận tải thủy xuyên suốt 4 nước dọc sông Mê Kông

6 quốc gia dọc tuyến sông Lan Thương – Mê Kông đang hướng đến xây dựng, áp dụng các quy định chung về giao thông thủy trên tuyến sông này; tiến tới thiết lập mạng lưới vận tải thủy xuyên suốt 4 nước.