
Toàn cảnh Phiên họp Ủy ban về KH&CN thuộc Hội đồng quốc gia về Phát triển bền vững và Nâng cao năng lực cạnh tranh vừa diễn ra mới đây tại Hà Nội.
Đóng góp lớn của khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo
Theo đánh giá của Ủy ban về KH&CN thuộc Hội đồng quốc gia về Phát triển bền vững và Nâng cao năng lực cạnh tranh khẳng định: KHCN&ĐMST là công cụ then chốt để thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững bên cạnh đầu tư nguồn lực tài chính và môi trường thể chế.
Đồng thời, KHCN&ĐMST đóng góp vào thành tựu của hầu hết tất cả các mục tiêu phát triển bền vững và là công cụ để thực thi các mục tiêu phát triển bền vững của Việt Nam như xóa đói, xóa nghèo, cải thiện an ninh lương thực, dinh dưỡng và phát triển nông nghiệp; thúc đẩy tiếp cận và hiệu quả của năng lượng; thúc đẩy bình đẳng xã hội theo nguyên tắc "không ai bị bỏ lại phía sau"; phòng ngừa bệnh tật và cải thiện sức khoẻ; thúc đẩy tiếp cận và cá nhân hóa giáo dục.
Trong bối cảnh hiện nay, KHCN&ĐMST đã có nhiều đóng góp rất quan trọng trong thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững. Vai trò của KHCN&ĐMST đã được khẳng định trong quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước, được thể hiện trong một số chính sách liên quan đến các mục tiêu phát triển bền vững; nguồn lực đầu tư xã hội cho KHCN&ĐMST ngày càng tăng; đã có những sáng kiến KH&CN phục vụ thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững; KHCN&ĐMST đang dần khẳng định vai trò là động lực thúc đẩy phát triển sản xuất trong nhiều lĩnh vực kinh tế.
Tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợi, KHCN&ĐMST cũng còn có những khó khăn trong huy động và phân bổ nguồn lực tài chính từ ngân sách nhà nước và xã hội cho thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững; hệ thống giám sát, đánh giá thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững đang trong giai đoạn hình thành, năng lực thống kê tại các bộ, ngành và địa phương hiện nay chưa đáp ứng yêu cầu đề ra trong thống kê các mục tiêu phát triển bền vững, việc điều tra thu thập số liệu phục vụ giám sát đánh giá phát triển bền vững gặp nhiều khó khăn do chưa có kinh phí thực hiện,…
Cần triển khai đồng bộ nhiều giải pháp để phát triển bền vững
Tại Phiên họp toàn thể Ủy ban về khoa học và công nghệ thuộc Hội đồng quốc gia về Phát triển bền vững và Nâng cao năng lực cạnh tranh mới đây, đại diện các bộ, ngành, cơ quan đã báo cáo kết quả thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững giai đoạn 2017 - 2022 và yêu cầu đặt ra đối với KHCN&ĐMST trong hoàn thành lộ trình thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững của Việt Nam đến năm 2030.
Bên cạnh đó, đại diện một số hội, hiệp hội, viện nghiên cứu, trường đại học đã thẳng thắn chia sẻ về tình hình triển khai các nhiệm vụ, giải pháp về KHCN&ĐMST để thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững của Việt Nam.

Thứ trưởng Bộ KH&CN Bùi Thế Duy phát biểu tại Phiên họp.
Theo báo cáo của Bộ Kế hoạch và Đầu tư (KH&ĐT), năm 2021, Việt Nam đứng thứ 51/165 trên bảng xếp hạng chỉ số các mục tiêu phát triển bền vững (SDGs). Năm 2019, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định về Lộ trình thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững đến năm 2030. Bộ KH&ĐT đã ban hành hệ thống gồm 158 chỉ tiêu thống kê phát triển bền vững Việt Nam. Hàng năm, các, bộ, ngành, địa phương gửi báo cáo về Bộ KH&ĐT tổng hợp, xây dựng Báo cáo giám sát, đánh giá mục tiêu phát triển bền vững. Việt Nam đã thực hiện nghiêm túc việc giám sát, đánh giá mục tiêu SDGs theo yêu cầu của Liên hợp quốc.
Ngoài ra, Bộ KH&ĐT đã thực hiện hiệu quả 17 mục tiêu trong các mục tiêu phát triển bền vững (SDGs). Để giữ vững và thúc đẩy tiến trình thực hiện các mục tiêu SDGs trong thời gian tới, Bộ KH&ĐT đề xuất các nhiệm vụ, giải pháp gồm: Nhiệm vụ, giải pháp để phục hồi, ứng phó linh hoạt với dịch Covid-19 và phát triển kinh tế bền vững; tiếp tục đầu tư, phát triển nguồn vốn con người, đặc biệt qua việc cung cấp dịch vụ xã hội cơ bản, thiết yếu, dễ tiếp cận, công bằng và chất lượng; thúc đẩy phục hồi các ngành kinh tế theo hướng xanh, tuần hoàn để đảm bảo vừa phát triển kinh tế bền vững, tạo tiềm lực cho các giải pháp an sinh xã hội nhưng đồng thời giảm ô nhiễm môi trường, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và ứng phó với biến đổi khí hậu; tăng cường năng lực dữ liệu để cung cấp các bằng chứng kịp thời cho theo dõi, giám sát và đánh giá các mục tiêu SDGs; tiếp tục thực hiện đồng bộ các giải pháp để huy động và sử dụng hiệu quả nguồn lực tài chính cho thực hiện các mục tiêu SDGs.
Đối với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (Bộ NN&PTNN), thời gian qua, Bộ đã chủ trì thu thập 14 chỉ tiêu trong Bộ chỉ tiêu thống kê phát triển bền vững của Việt Nam (Thông tư 03/2019/TT-BKHĐT ngày 22/1/2019 của Bộ KH&ĐT). Bộ NN&PTNN xác định phát triển bền vững là nhiệm vụ trọng tâm và đã đưa nội dung này vào Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp và Kế hoạch cơ cấu lại ngành nông nghiệp giai đoạn 2017 - 2020, Chiến lược phát triển nông nghiệp và nông thôn bền vững giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050. Từ năm 2017 đến nay, Bộ NN&PTNN đã hoàn thành 5 bộ Luật quan trọng, sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật phòng, chống thiên tai và Luật đê điều, ban hành 5 chiến lược ngành thời kỳ 2021 - 2030 tầm nhìn đến năm 2045, qua đó thể chế hóa rõ hơn quan điểm phát triển bền vững để tăng cường hiệu quả quản lý nhà nước trong các lĩnh vực.
Về giải pháp KH&CN, trong thời gian tới Bộ NN&PTNN xác định sẽ tăng cường tiềm lực KH&CN, tập trung đầu tư phát triển một số viện nghiên cứu, trường đại học theo mô hình tiên tiến của khu vực và quốc tế; xây dựng hệ sinh thái khởi nghiệp của ngành; hình thành nhóm nghiên cứu mạnh giải quyết các vấn đề trọng điểm quốc gia.
Đặc biệt, Bộ NN&PTNN sẽ chú trọng phát triển doanh nghiệp đổi mới sáng tạo, doanh nghiệp khởi nghiệp trong nông nghiệp; tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách khuyến khích các cơ sở sản xuất kinh doanh nông nghiệp đầu tư vào nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao; nghiên cứu, phát triển và ứng dụng công nghệ số trong nông nghiệp; nghiên cứu phát triển nông nghiệp xanh, nông nghiệp tuần hoàn, thích ứng với biến đổi khí hậu, giảm thải phát thải nhà kính; nghiên cứu các giải pháp KH&CN phục vụ xây dựng nông thôn mới;…
Cũng tại phiên họp, đại diện Hiệp hội doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam (VINASME) cho biết, VINASME hiện có 3 đơn vị có chức năng nghiên cứu về KH&CN hiện đang hoạt động hiệu quả, có nhiều sản phẩm đang được ứng dụng góp phần vào phát triển bền vững doanh nghiệp. VINASME và nhóm chuyên gia Nhật Bản đang nghiên cứu, xây dựng Bộ tiêu chí phát triển bền vững cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam với 3 phần chính: Xã hội, môi trường, kinh tế và quản trị.
Trên cơ sở Bộ tiêu chí phát triển bền vững, VINASME mong muốn được phối hợp với Bộ KH&CN và một số bộ ngành liên quan tổ chức Cuộc thi hàng năm nhằm nâng cao nhận thức của cộng đồng doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam về phát triển bền vững, các hoạt động phát triển bền vững; thúc đẩy các sáng kiến, ý tưởng sản xuất kinh doanh bền vững ở Việt Nam nhằm thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững; tạo ra diễn đàn kết nối các doanh nghiệp nhỏ và vừa, nhà đầu tư, chuyên gia, nhà khoa học, nhà hoạch định chính sách trong thúc đẩy sản xuất xanh, phát triển bền vững; chuyển giao tri thức và công nghệ về phát triển bền vững của các nước phát triển cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam.
Bên cạnh đó, nhiều đại biểu đề xuất giải pháp ban hành hệ thống chính sách phù hợp, đồng bộ để thu hút các thành phần kinh tế đầu tư trong nghiên cứu, chuyển giao công nghệ, liên doanh, liên kết đối với giáo dục và đào tạo; sửa đổi, bổ sung ban hành các cơ chế, chính sách thu hút, đãi ngộ đội ngũ cán bộ nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ; có chính sách đặc thù, vượt trội, tạo nền tảng tăng cường ứng dụng, chuyển giao công nghệ, nâng cao năng lực nghiên cứu và phát triển, tiến tới làm chủ một số công nghệ mới; cơ cấu lại các chương trình, nhiệm vụ KH&CN, gắn với nhu cầu xã hội, chuỗi giá trị của sản phẩm, tạo giá trị gia tăng; khuyến khích doanh nghiệp đầu tư nước ngoài hình thành các trung tâm nghiên cứu và triển khai, đổi mới sáng tạo tại Việt Nam;...
Phát biểu tại Phiên họp, Thứ trưởng Bộ KH&CN Bùi Thế Duy cho rằng, các chương trình KH&CN quốc gia ngày càng hướng đến thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững.
"Để tiếp tục thể chế hóa chủ trương, chính sách của Đảng về KH&CN và để phát triển KH&CN là quốc sách hàng đầu, giữ vai trò then chốt trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa của đất nước, việc hoàn thiện các chính sách, văn bản quy phạm pháp luật về KH&CN thực sự cấp thiết. Các định hướng hoàn thiện pháp luật về KH&CN trong giai đoạn 2021-2025 tập trung vào việc sửa đổi quy định pháp luật bảo đảm thực thi các cam kết của Việt Nam trong các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới; giải quyết những vướng mắc, bất cập của văn bản pháp luật hiện hành, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Đồng thời, cũng cần hoàn thiện pháp luật về KHCN&ĐMST để nâng cao vai trò quản lý nhà nước về đổi mới sáng tạo và chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và chuyển đổi số",Thứ trưởng Bùi Thế Duy nhấn mạnh.
Ngày 18/4/2018, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định 419/QĐ-TTg về việc kiện toàn Hội đồng Quốc gia về Phát triển bền vững và Nâng cao năng lực cạnh tranh. Hội đồng bao gồm 6 ủy ban chuyên môn là Uỷ ban về phát triển bền vững, cải thiện môi trường kinh doanh, Uỷ ban về xã hội, Uỷ ban về môi trường, Uỷ ban về giáo dục và phát triển nhân lực, Ủy ban về quan hệ đối tác công tư và Ủy ban về KH&CN.
Uỷ ban về KH&CN do Bộ trưởng Bộ KH&CN làm Chủ tịch, 18 thành viên là đại diện của một số bộ, ngành đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong hoạt động KH&CN, một số tổ chức nghiên cứu, đào tạo lớn của cả nước, một số hiệp hội ngành nghề và một số chuyên gia trong nước.
Từ khi thành lập đến nay, Uỷ ban đã tham vấn nhiều vấn đề quan trọng liên quan đến hoạch định phát triển KH,CN&ĐMST như Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2021-2030, Chiến lược phát triển nông nghiệp và nông thôn bền vững giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2030, Chiến lược phát triển KH,CN&ĐMST đến năm 2030,…; xây dựng và hoàn thiện chính sách phát triển KH,CN&ĐMST phục vụ phát triển bền vững kinh tế - xã hội; xây dựng và đóng góp ý kiến dự thảo các văn bản và báo cáo quốc gia về phát triển bền vững; hàng năm xây dựng báo cáo chuyên đề về KH,CN&ĐMST gửi Hội đồng Quốc gia về phát triển bền vững và Nâng cao năng lực cạnh tranh;…
Đường sắt tốc độ cao (ĐSTĐC) Bắc - Nam là dự án trọng điểm quốc gia, có ý nghĩa hết sức quan trọng, góp phần phát triển kinh tế - xã hội, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Trong đó, việc tiếp nhận chuyển giao công nghệ, phát triển công nghiệp và đào tạo nguồn nhân lực là một trong những yếu tố quan trọng đảm bảo quá trình đầu tư, vận hành, khai thác hiệu quả và từng bước đưa đường sắt tốc độ cao trở thành động lực phát triển của nền kinh tế.
Ngày 9/1 tại Hà Nội, Trường Đại học Giao thông vận tải (GTVT) phối hợp Trường Đại học Giao thông Tây Nam (Trung Quốc) tổ chức Hội thảo quốc tế Xây dựng đường sắt tốc độ cao tại Việt Nam và Kinh nghiệm của Trung Quốc.
Tại Việt Nam, chi phí logistics trung bình ở mức tương đương 16,8 - 17% GDP và vẫn còn ở mức khá cao so với mức bình quân chung của thế giới (khoảng 10,6%). Với tốc độ tăng lượng hàng hóa nêu trên, nếu cơ sở hạ tầng logistics và tính kết nối giữa các phương thức vận tải không được cải thiện sẽ không thể đáp ứng được nhu cầu vận tải, tình trạng tắc nghẽn các tuyến đường dẫn vào cảng biển chính sẽ ngày càng nghiêm trọng, khi đó chi phí logistics có thể tăng cao hơn so với thời điểm hiện tại, nếu không có giải pháp vận tải lâu dài, bền vững.
Tiêu chuẩn kỹ thuật số 44 (UN Regulation No.44 - UN R44) và Tiêu chuẩn kỹ thuật số 129 (UN Regulation No.129 - UN R129) do Ủy ban Kinh tế Liên hợp quốc về châu Âu (UNECE) ban hành cho hệ thống thiết bị an toàn của trẻ em trên xe ô tô. Hai tiêu chuẩn này được trình bày và so sánh với nhau để làm rõ tính ứng dụng thực tế vào Việt Nam. Bên cạnh đó, tình hình áp dụng hai tiêu chuẩn này trên thế giới và cụ thể tại Malaysia được trình bày chi tiết. Hiện tại, Việt Nam nên áp dụng đồng thời cả hai tiêu chuẩn để khuyến khích người đi ô tô sử dụng ghế trẻ em theo khả năng tài chính và nhu cầu an toàn; đồng thời nên có định hướng dẫn chuyển hoàn toàn sang UN R129.
Theo Cục Đăng kiểm VN, 5 thông tư mới về lĩnh vực đăng kiểm cùng có hiệu lực từ 1/1/2025, nhằm đồng bộ hóa về thời gian với Luật Trật tự, ATGT đường bộ.
6 quốc gia dọc tuyến sông Lan Thương – Mê Kông đang hướng đến xây dựng, áp dụng các quy định chung về giao thông thủy trên tuyến sông này; tiến tới thiết lập mạng lưới vận tải thủy xuyên suốt 4 nước.
Bình luận
Thông báo
Bạn đã gửi thành công.