Phát thải khí độc hại từ ngành năng lượng đang gia tăng

sao sao sao sao sao
18/11/2019 06:46

Đại sứ quán Đan Mạch công bố vừa qua, phát thải khí CO2 từ ngành năng lượng đang gia tăng rất nhanh.

cGhhdC10aGFpLWNvMi10dS1uZ2FuaC1uYW5nLWx1b25nLWhpZW

 Phát thải từ than trong ngành điện gây ra chi phí y tế lớn đối với xã hội - Ảnh: Internet

Cụ thể, than là nguồn phát thải CO2 chính và đóng góp từ 65 - 75% trong tổng lượng phát thải CO2 từ hệ thống năng lượng trong các kịch bản. Ngừng đầu tư vào nhà máy nhiệt điện than mới và tăng sử dụng khí thiên nhiên hóa lỏng (LNG) có thể giúp giảm 53 triệu tấn CO2 năm 2030, nhưng lại làm tổng chi phí hệ thống tăng thêm xấp xỉ 1 tỉ USD.

So với kịch bản phát triển bình thường trong báo cáo Đóng góp do quốc gia tự quyết định (NDC), phát thải từ ngành năng lượng sẽ giảm 19% vào năm 2030. Nếu thực hiện tiết kiệm năng lượng và ngừng đầu tư vào các nhà máy nhiệt điện than mới, mức phát thải CO2 sẽ giảm hơn 30% vào năm 2030.

Báo cáo EOR19 còn chỉ ra rằng phát thải từ than trong ngành điện gây ra chi phí y tế lớn đối với xã hội. Tất cả các kịch bản đều dẫn tới chi phí y tế do ô nhiễm môi trường nằm trong khoảng 7-9 tỉ USD vào năm 2030.

Bên cạnh các tác động tới khí hậu của phát thải khí nhà kính, việc đốt nhiên liệu hóa thạch cũng gây ra ô nhiễm không khí tại địa phương và tổn hại đến sức khỏe con người. Quá trình đốt than, khí và dầu giải phóng SO2, NOx và các hạt PM2.5 có thể gây bệnh và tăng nguy cơ tử vong sớm. Các tác động tiêu cực đối với sức khỏe gây ra thiệt hại kinh tế đối với xã hội và có thể được xem là các yếu tố kinh tế ngoại lai.

Vì vậy, Báo cáo EOR19 đưa ra khuyến nghị cần áp dụng các chính sách khuyến khích nhằm giảm phát thải CO2 và các chất ô nhiễm không khí khác, bao gồm thuế, các chương trình mua bán phát thải hoặc các hình thức hệ thống thị trường khác.

Việc áp dụng các chính sách khuyến khích nhằm giảm phát thải CO2 và các chất ô nhiễm không khí khác sẽ hỗ trợ cho các dự án đầu tư vào năng lượng tái tạo, và thúc đẩy quá trình đóng cửa dần các nhà máy sản xuất điện từ các nhiên liệu hóa thạch giàu carbon.

Ngoài ra, Báo cáo EOR19 còn khuyến nghị thắt chặt các biện pháp kiểm soát ô nhiễm không khí trong sản xuất điện và công nghiệp; bổ sung các chi phí y tế do ô nhiễm môi trường trong mô hình hóa hệ thống năng lượng và lập quy hoạch, trong đó có Quy hoạch phát triển điện quốc gia 8 (QHĐ8).

Theo Báo cáo EOR19, các chi phí y tế hiện tại đã đặt ra gánh nặng chi phí lớn cho xã hội và tình trạng ô nhiễm từ các nhà máy điện đang gia tăng. Các chi phí ngoại ứng liên quan đến sức khỏe thường không được xem xét trong các đánh giá kinh tế khi lập quy hoạch năng lượng. Việc lồng ghép các giải pháp nêu trên sẽ làm nổi bật chi phí thực của năng lượng, đặc biệt là chi phí liên quan đến nhiệt điện than.

Ngoài ra, cần xem xét điều chỉnh mục tiêu phát thải CO2 năm 2030 để phù hợp hơn với việc hạn chế sử dụng than, thực hiện các giải pháp tiết kiệm năng lượng có chi phí hiệu quả và mở rộng ứng dụng công nghệ năng lượng tái tạo.

Ý kiến của bạn

Bình luận

Phát triển nguồn nhân lực cho xây dựng, vận hành đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam

Phát triển nguồn nhân lực cho xây dựng, vận hành đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam

Đường sắt tốc độ cao (ĐSTĐC) Bắc - Nam là dự án trọng điểm quốc gia, có ý nghĩa hết sức quan trọng, góp phần phát triển kinh tế - xã hội, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Trong đó, việc tiếp nhận chuyển giao công nghệ, phát triển công nghiệp và đào tạo nguồn nhân lực là một trong những yếu tố quan trọng đảm bảo quá trình đầu tư, vận hành, khai thác hiệu quả và từng bước đưa đường sắt tốc độ cao trở thành động lực phát triển của nền kinh tế.

Hội thảo quốc tế Xây dựng đường sắt tốc độ cao ở Việt Nam và Kinh nghiệm từ Trung Quốc

Hội thảo quốc tế Xây dựng đường sắt tốc độ cao ở Việt Nam và Kinh nghiệm từ Trung Quốc

Ngày 9/1 tại Hà Nội, Trường Đại học Giao thông vận tải (GTVT) phối hợp Trường Đại học Giao thông Tây Nam (Trung Quốc) tổ chức Hội thảo quốc tế Xây dựng đường sắt tốc độ cao tại Việt Nam và Kinh nghiệm của Trung Quốc.

Phát triển đường thuỷ nội địa - Giải pháp giảm bền vững chi phí logistics

Phát triển đường thuỷ nội địa - Giải pháp giảm bền vững chi phí logistics

Tại Việt Nam, chi phí logistics trung bình ở mức tương đương 16,8 - 17% GDP và vẫn còn ở mức khá cao so với mức bình quân chung của thế giới (khoảng 10,6%). Với tốc độ tăng lượng hàng hóa nêu trên, nếu cơ sở hạ tầng logistics và tính kết nối giữa các phương thức vận tải không được cải thiện sẽ không thể đáp ứng được nhu cầu vận tải, tình trạng tắc nghẽn các tuyến đường dẫn vào cảng biển chính sẽ ngày càng nghiêm trọng, khi đó chi phí logistics có thể tăng cao hơn so với thời điểm hiện tại, nếu không có giải pháp vận tải lâu dài, bền vững.

Tiêu chuẩn thiết bị an toàn cho trẻ em trên ô tô, kinh nghiệm thế giới và hướng áp dụng ở Việt Nam

Tiêu chuẩn thiết bị an toàn cho trẻ em trên ô tô, kinh nghiệm thế giới và hướng áp dụng ở Việt Nam

Tiêu chuẩn kỹ thuật số 44 (UN Regulation No.44 - UN R44) và Tiêu chuẩn kỹ thuật số 129 (UN Regulation No.129 - UN R129) do Ủy ban Kinh tế Liên hợp quốc về châu Âu (UNECE) ban hành cho hệ thống thiết bị an toàn của trẻ em trên xe ô tô. Hai tiêu chuẩn này được trình bày và so sánh với nhau để làm rõ tính ứng dụng thực tế vào Việt Nam. Bên cạnh đó, tình hình áp dụng hai tiêu chuẩn này trên thế giới và cụ thể tại Malaysia được trình bày chi tiết. Hiện tại, Việt Nam nên áp dụng đồng thời cả hai tiêu chuẩn để khuyến khích người đi ô tô sử dụng ghế trẻ em theo khả năng tài chính và nhu cầu an toàn; đồng thời nên có định hướng dẫn chuyển hoàn toàn sang UN R129.

5 thông tư mới lĩnh vực đăng kiểm cùng có hiệu lực từ 1/1/2025

5 thông tư mới lĩnh vực đăng kiểm cùng có hiệu lực từ 1/1/2025

Theo Cục Đăng kiểm VN, 5 thông tư mới về lĩnh vực đăng kiểm cùng có hiệu lực từ 1/1/2025, nhằm đồng bộ hóa về thời gian với Luật Trật tự, ATGT đường bộ.

Đề xuất thiết lập tuyến vận tải thủy xuyên suốt 4 nước dọc sông Mê Kông

Đề xuất thiết lập tuyến vận tải thủy xuyên suốt 4 nước dọc sông Mê Kông

6 quốc gia dọc tuyến sông Lan Thương – Mê Kông đang hướng đến xây dựng, áp dụng các quy định chung về giao thông thủy trên tuyến sông này; tiến tới thiết lập mạng lưới vận tải thủy xuyên suốt 4 nước.