Các phương án chạy tàu tốc hành, khu đoạn trên đường sắt tốc độ cao Bắc – Nam

Tác giả: Tùng Lộc

sao sao sao sao sao
15/11/2024 06:01

Theo Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi Dự án đường sắt tốc độ cao trên trục Bắc - Nam, các đoàn tàu khách trên tuyến tốc độ cao này có tàu tốc hành, tiêu chuẩn, khu đoạn...

Phương án tổ chức chạy tàu khách trên đường sắt tốc độ cao trục Bắc – Nam  - Ảnh 1.

Một tuyến đường sắt tốc độ cao trên thế giới - Ảnh internet

Ngày 13/11, thừa ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ GTVT Nguyễn Văn Thắng trình Quốc hội chủ trương đầu tư Dự án đường sắt tốc độ cao trên trục Bắc - Nam. Cùng ngày, theo chương trình làm việc của kỳ họp thứ 8, các đại biểu Quốc hội thảo luận ở tổ về chủ trương đầu tư dự án đặc biệt quan trọng này.

Dự án đường sắt tốc độ cao trục Bắc – Nam đến nay đã hoàn thành bước báo cáo nghiên cứu tiền khả thi và thẩm định báo cáo nghiên cứu tiền khả thi, với đề xuất xây dựng mới tuyến đường sắt với chiều dài khoảng 1.541 km, điện khí hóa, đường đôi, khổ 1.435 mm, tốc độ thiết kế 350 km/h, tải trọng 22,5 tấn/trục. Tuyến đi qua 20 tỉnh, thành phố, với điểm đầu tại ga Ngọc Hồi (Hà Nội) và điểm cuối là ga Thủ Thiêm (TP. HCM); trên tuyến có 23 ga khách, 5 ga hàng; vận chuyển hành khách, đáp ứng yêu cầu lưỡng dụng phục vụ quốc phòng, an ninh, có thể vận tải hàng hóa khi cần thiết.

Một trong nội dung được đề cập trong Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi dự án (do Liên danh tư vấn TEDI - TRICC - TEDIS thực hiện) là phương án thiết kế đoàn tàu, tổ chức khai thác các đoàn tàu trên tuyến đường sắt tốc độ cao trục Bắc - Nam.

Theo đề xuất tại Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi, dự án lựa chọn loại hình công nghệ đường sắt chạy trên ray; lựa chọn công nghệ đoàn tàu dùng động lực phân tán (EMU) cho tàu khách và công nghệ động lực tập trung cho tàu hàng; chọn công nghệ tín hiệu điều khiển chạy tàu tiên tiến nhất đang được khai thác thương mại trên thế giới.

Cụ thể, về công nghệ động lực phân tán (EMU) cho đoàn tàu khách, Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi đề xuất sử dụng động lực EMU cho giai đoạn 2036 – 2045 là 8 toa, giai đoạn sau 2045 là 16 toa. Phương án tổ chức khai thác vận hành các đoàn tàu chở khách được đề xuất với 3 loại chính: Tàu tốc hành, tàu tiêu chuẩn và tàu khu đoạn.

Loại 1: Tàu tốc hành Bắc – Nam, chỉ dừng một số ga chính (dự kiến 5 ga: Ngọc Hồi, Vinh, Đà Nẵng, Nha Trang và Thủ Thiêm). Các đoàn tàu tốc hành sẽ đạt vận tốc khai thác cao nhất, chỉ hết 5,5 giờ để chạy toàn Hà Nội - TP. HCM và ngược lại, bao gồm cả thời gian tàu dừng tại các ga.

Loại 2 (gồm loại 2A và 2B): Tàu tiêu chuẩn chạy suốt Bắc - Nam và dừng xen kẽ các ga (tàu 2A dừng tại các ga chẵn, tàu 2B dừng tại các ga lẻ).

Loại 3: Tàu 2C khai thác trên các khu đoạn (như: Hà Nội – Vinh, Hà Nội – Đà Nẵng; TP. HCM – Nha Trang, TP. HCM – Đà Nẵng…), khai thác ở dải tốc độ thấp hơn so với tàu tốc hành, tiêu chuẩn để đảm bảo hiệu quả vận doanh (trung bình 156 – 182 km/h).

Trong báo cáo thẩm định Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi dự án, Tư vấn thẩm tra quốc tế ((Liên danh tư vấn Công ty TNHH Tư vấn và xây dựng Đại học GTVT – Công ty TNHH EVO mc – Công ty Ove Arup & Partner Hong Kong Limited – Công ty Cp Tư vấn xây dựng và thương mại Hưng Phú), Hội đồng thẩm định nhà nước đề nghị Bộ GTVT trong bước lập Báo cáo nghiên cứu khả thi tiếp tục phân tích, so sánh để lựa chọn cấu hình đoàn tàu linh hoạt, tối ưu theo từng dải tốc độ khai thác để đảm bảo tính kinh tế - kỹ thuật cho dự án. Lựa chọn vận tốc và cấu hình đoàn tàu phù hợp (toa động cơ và toa không động cơ) để xem xét lắp ráp, nội địa hóa một phần các đoàn tàu trong nước.

Trong đó, Tư vấn thẩm tra kiến nghị xem xét thêm lựa chọn đoàn tàu động lực tập trung (công nghệ PP – Push and Pull) thiết kế cho dải vận tốc 200 – 230 km/h (để khai thác tàu khu đoạn) nhằm tối ưu trong vận hành, tạo tiền đề, động lực phát triển công nghiệp đường sắt, công nghiệp hỗ trợ tại Việt Nam.

Đối với công nghệ đoàn tàu hàng, Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi đề xuất lựa chọn đầu kéo tàu hàng có tổng công suất 6.000 Kw cho đoàn tàu hàng 14 toa (khả năng chuyên chở 28 container 40 ft, tương đương 840 tấn hàng/đoàn tàu), chiều dài đoàn tàu khoảng 400 m.

Theo Tư vấn thẩm tra, để hiệu quả hơn, trong bước lập Báo cáo nghiên cứu khả thi nên nghiên cứu thêm phương án lựa chọn tàu hàng với đầu máy có công suất 6.00 Kw cho đoàn tàu 30 toa, với sức chuyên chở khoảng 1.800 – 2.000 tấn hàng, vận tốc khai thác 120 km/h, thay đổi chiều dài ke của ga hàng hóa lên 800 m.

Ý kiến của bạn

Bình luận

Phát triển nguồn nhân lực cho xây dựng, vận hành đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam

Phát triển nguồn nhân lực cho xây dựng, vận hành đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam

Đường sắt tốc độ cao (ĐSTĐC) Bắc - Nam là dự án trọng điểm quốc gia, có ý nghĩa hết sức quan trọng, góp phần phát triển kinh tế - xã hội, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Trong đó, việc tiếp nhận chuyển giao công nghệ, phát triển công nghiệp và đào tạo nguồn nhân lực là một trong những yếu tố quan trọng đảm bảo quá trình đầu tư, vận hành, khai thác hiệu quả và từng bước đưa đường sắt tốc độ cao trở thành động lực phát triển của nền kinh tế.

Hội thảo quốc tế Xây dựng đường sắt tốc độ cao ở Việt Nam và Kinh nghiệm từ Trung Quốc

Hội thảo quốc tế Xây dựng đường sắt tốc độ cao ở Việt Nam và Kinh nghiệm từ Trung Quốc

Ngày 9/1 tại Hà Nội, Trường Đại học Giao thông vận tải (GTVT) phối hợp Trường Đại học Giao thông Tây Nam (Trung Quốc) tổ chức Hội thảo quốc tế Xây dựng đường sắt tốc độ cao tại Việt Nam và Kinh nghiệm của Trung Quốc.

Phát triển đường thuỷ nội địa - Giải pháp giảm bền vững chi phí logistics

Phát triển đường thuỷ nội địa - Giải pháp giảm bền vững chi phí logistics

Tại Việt Nam, chi phí logistics trung bình ở mức tương đương 16,8 - 17% GDP và vẫn còn ở mức khá cao so với mức bình quân chung của thế giới (khoảng 10,6%). Với tốc độ tăng lượng hàng hóa nêu trên, nếu cơ sở hạ tầng logistics và tính kết nối giữa các phương thức vận tải không được cải thiện sẽ không thể đáp ứng được nhu cầu vận tải, tình trạng tắc nghẽn các tuyến đường dẫn vào cảng biển chính sẽ ngày càng nghiêm trọng, khi đó chi phí logistics có thể tăng cao hơn so với thời điểm hiện tại, nếu không có giải pháp vận tải lâu dài, bền vững.

Tiêu chuẩn thiết bị an toàn cho trẻ em trên ô tô, kinh nghiệm thế giới và hướng áp dụng ở Việt Nam

Tiêu chuẩn thiết bị an toàn cho trẻ em trên ô tô, kinh nghiệm thế giới và hướng áp dụng ở Việt Nam

Tiêu chuẩn kỹ thuật số 44 (UN Regulation No.44 - UN R44) và Tiêu chuẩn kỹ thuật số 129 (UN Regulation No.129 - UN R129) do Ủy ban Kinh tế Liên hợp quốc về châu Âu (UNECE) ban hành cho hệ thống thiết bị an toàn của trẻ em trên xe ô tô. Hai tiêu chuẩn này được trình bày và so sánh với nhau để làm rõ tính ứng dụng thực tế vào Việt Nam. Bên cạnh đó, tình hình áp dụng hai tiêu chuẩn này trên thế giới và cụ thể tại Malaysia được trình bày chi tiết. Hiện tại, Việt Nam nên áp dụng đồng thời cả hai tiêu chuẩn để khuyến khích người đi ô tô sử dụng ghế trẻ em theo khả năng tài chính và nhu cầu an toàn; đồng thời nên có định hướng dẫn chuyển hoàn toàn sang UN R129.

5 thông tư mới lĩnh vực đăng kiểm cùng có hiệu lực từ 1/1/2025

5 thông tư mới lĩnh vực đăng kiểm cùng có hiệu lực từ 1/1/2025

Theo Cục Đăng kiểm VN, 5 thông tư mới về lĩnh vực đăng kiểm cùng có hiệu lực từ 1/1/2025, nhằm đồng bộ hóa về thời gian với Luật Trật tự, ATGT đường bộ.

Đề xuất thiết lập tuyến vận tải thủy xuyên suốt 4 nước dọc sông Mê Kông

Đề xuất thiết lập tuyến vận tải thủy xuyên suốt 4 nước dọc sông Mê Kông

6 quốc gia dọc tuyến sông Lan Thương – Mê Kông đang hướng đến xây dựng, áp dụng các quy định chung về giao thông thủy trên tuyến sông này; tiến tới thiết lập mạng lưới vận tải thủy xuyên suốt 4 nước.