
Thứ trưởng Bộ Xây dựng Nguyễn Xuân Sang chủ trì Hội nghị
Chiều 8/10, Bộ Xây dựng tổ chức Hội nghị đánh giá kết quả thực hiện Chiến lược phát triển dịch vụ vận tải đến năm 2020, định hướng đến năm 2030 (Chiến lược 318); định hướng xây dựng Chiến lược phát triển dịch vụ vận tải đến năm 2035, định hướng đến năm 2050.
Phát biểu khai mạc Hội nghị, Thứ trưởng Bộ Xây dựng Nguyễn Xuân Sang nhấn mạnh: Hội nghị đánh giá kết quả thực hiện Chiến lược phát triển dịch vụ vận tải đến năm 2020, định hướng đến năm 2030 là cơ sở để xây dựng Chiến lược mới.
Theo đó, các cơ quan, đơn vị, hiệp hội, doanh nghiệp đóng góp ý kiến thiết thực, đánh giá kết quả đạt được, cần chỉ rõ những tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp thực hiện, đảm bảo việc xây dựng được Chiến lược phát triển dịch vụ vận tải đến năm 2035, định hướng đến năm 2050 sát với thực tiễn, có tính khả thi cao.
Tại Hội nghị, lãnh đạo Học viện Chiến lược, bồi dưỡng cán bộ xây dựng, Bộ Xây dựng thông tin, tổng khối lượng vận tải hàng hóa năm 2024 của nước ta đạt khoảng 3,2 tỷ tấn, tăng 13,97% so với năm 2023. Trong đó, vận tải đường bộ đạt gần 2 tỷ tấn (tăng 14,76%), chiếm tỷ trọng lớn nhất; vận tải đường thủy nội địa đạt 527,5 triệu tấn (tăng 10,83%); vận tải đường biển đạt 665 triệu tấn (tăng 14,18%); vận tải đường sắt đạt khoảng 5 triệu tấn (tăng 9,47%); vận tải đường hàng không đạt gần 1,5 triệu tấn (tăng 21,04%)…
"Về khối lượng luân chuyển hàng hoá, năm 2024 đạt gần 545 tỷ tấn.km, trong đó đường biển đạt gần 275 tỷ tấn.km, đường thuỷ nội địa đạt gần 121 tỷ tấn.km, đường bộ đạt khoảng 136 tỷ tấn.km, đường sắt đạt 3,8 tỷ tấn.km và đường hàng không trên 9,6 tỷ tấn.km", lãnh đạo Học viện Chiến lược, bồi dưỡng cán bộ xây dựng, Bộ Xây dựng thông tin và cho biết thêm: tăng trưởng hàng hóa luân chuyển giai đoạn 2014 - 2024 đạt 9,19%/năm. Trong đó vận tải đường thủy nội địa đạt cao nhất 11,65%/năm, tiếp theo là vận tải đường bộ đạt 10,94%, đường hàng không đạt 10,33%/năm, đường biển đạt 7,77%/năm, duy nhất vận tải đường sắt có tốc độ tăng trưởng âm (-1,07%/năm).
Trong giai đoạn 2014 – 2024, thị phần khối lượng luân chuyển hàng hóa đường sắt và đường biển có xu hướng giảm (bình quân giảm 9,4%/năm và 1,3%/năm), trong khi đường bộ, đường thuỷ nội địa và đường hàng không có có xu hướng tăng nhẹ (bình quân tăng 1,6%/năm, 2,25%/năm và 1,04%/năm).
Tốc độ tăng trưởng của khối lượng vận tải hành khách toàn ngành trong 10 năm 2014 - 2024 đạt 5,17%/năm. Trong đó, tốc độ tăng trưởng khối lượng vận tải hành khách lĩnh vực đường hàng không đạt cao nhất 8,51%/năm, đường thủy nội địa đạt 8,38%/năm, đường bộ đạt 5,17%/năm, đường biển 2,99%/năm và đường sắt có tốc độ tăng trưởng âm (- 5,18%/năm).
Về thị phần khối lượng vận tải hành khách, vận tải đường bộ luôn chiếm ở mức cao nhất, năm 2024 chiếm 91,35%, tiếp theo là vận tải đường thủy nội địa chiếm 6,9%, vận tải đường hàng không chiếm 1,47% và cuối cùng ngành vận tải đường sắt và đường biển cùng chiếm 0,14%.
Thị phần vận tải hành khách trong giai đoạn 2014 - 2024 nhìn chung chưa có nhiều thay đổi. Vận tải đường bộ chiếm bình quân 92,48%/năm, tiếp theo là vận tải đường thủy nội địa chiếm bình quân 5,84%/năm và đang có xu hướng tăng trong những năm gần đây.
Theo số liệu niên giám thống kê, khối lượng luân chuyển hành khách cả nước năm 2024 đạt gần 274,5 tỷ khách.km, trong đó đường bộ đạt gần 175,5 tỷ khách.km, đường hành không đạt gần 88,3 tỷ khách.km, đường thuỷ nội địa đạt khoảng 8 tỷ khách.km và đường sắt đạt khoảng 2,7 tỷ khách.km…
Ngoài ra, mục tiêu Chiến lược 318 đặt ra đến năm 2020 giảm chi phí logistics xuống còn tương đương khoảng 15% GDP so với mức khoảng 20% năm 2014. Tuy nhiên thực tế đến năm 2024 chi phí logistics của Việt Nam vẫn tương đương khoảng 16 - 18% GDP (theo báo cáo Logistics Việt Nam 2024; diễn đàn Logistics 2024). Mức chi phí này vẫn cao hơn mức trung bình khu vực ASEAN khoảng 2 -3 điểm phần trăm.
Kết luận Hội nghị, Thứ trưởng Bộ Xây dựng Nguyễn Xuân Sang yêu cầu lãnh đạo các đơn vị phối hợp xây dựng văn bản trình Bộ trưởng Bộ Xây dựng kí ban hành gửi tới các đơn vị, từ việc đánh giá hiện trạng, đóng góp ý kiến, chỉ ra nguyên nhân, tồn tại, bất cập, tất cả những gì liên quan đến vận tải gồm hạ tầng, phương tiện, người lái, cơ chế chính sách, phối hợp từ Trung ương, địa phương.
Trên cơ sở đó đề xuất giải pháp thực hiện, đảm bảo việc xây dựng được Chiến lược phát triển dịch vụ vận tải đến năm 2035, định hướng đến năm 2050 sát với thực tiễn, có tính khả thi cao.
Tag:
Trước đề nghị của Phòng Cảnh sát giao thông (PC08) Công an tỉnh Sơn La về những bất cập, tiềm ẩn TNGT trên QL6, Cục Đường bộ Việt Nam yêu cầu Khu Quản lý đường bộ I, phối hợp rà soát nhằm bảo đảm ATGT trên tuyến.
An toàn giao thông
Năm 2026, người điều khiển phương tiện tham gia giao thông, lựa chọn khung giờ phù hợp, ứng xử đúng mực và nhường nhịn nhau trên đường tại văn hoá giao thông.
An toàn giao thông
Cục Đường bộ VN có văn bản yêu cầu Khu Quản lý đường bộ I, Ban QLDA 2 và Sở Xây dựng Thái Nguyên tăng cường an toàn giao thông, an toàn lao động, vệ sinh môi trường, đồng thời đảm bảo công tác quản lý chất lượng, tiến độ của Dự án.
An toàn giao thông
Công ước quốc tế SOLAS đưa ra các yêu cầu mới để bảo đảm an toàn đối với thiết bị nâng và tời neo lắp đặt trên tàu biển, áp dụng đối với tàu biển có tổng dung tích từ 500 trở lên chạy tuyến quốc tế.
An toàn giao thông
Ngay từ những ngày đầu năm 2026, Ban Quản lý bảo trì đường bộ Bắc Ninh đã đồng loạt ra quân triển khai công tác tuần kiểm, rà soát toàn diện hiện trạng hệ thống giao thông đường bộ trên địa bàn tỉnh. Với phạm vi quản lý hơn 815 km đường các loại, đợt kiểm tra tập trung vào các tuyến giao thông huyết mạch như Quốc lộ 279, Quốc lộ 37, Quốc lộ 31, Quốc lộ 17 cùng các tuyến đường tỉnh có vai trò kết nối liên vùng gồm ĐT293, ĐT291, ĐT295…
An toàn giao thông
Bộ Xây dựng ban hành quy định mới, nêu rõ thời hạn Cục Đăng kiểm Việt Nam cấp chứng nhận chất lượng kiểu loại sản phẩm xe, phụ tùng xe cơ giới sản xuất trong nước, xe nhập khẩu trong 2-3 ngày.
An toàn giao thông
Bình luận
Thông báo
Bạn đã gửi thành công.