Bất ngờ về sức tàn phá của việc đi máy bay đối với môi trường

sao sao sao sao sao
14/12/2019 06:45

Ít người ngờ đến nhưng máy bay và hàng không gây ô nhiễm đáng kể. Đây là một vấn đề tế nhị liên quan đến sự tiện lợi của con người kỷ nguyên hiện đại.

o_nhiem_tu_may_bay_iyfd
Khói thải từ động cơ máy bay. Ảnh: The Conversation.

Tác động của hàng không lên môi trường

Khi muốn du lịch tới nơi xa xôi nào đó một cách nhanh chóng và tiện lợi, giải pháp hàng đầu hiện nay là đi máy bay. Nhưng thực sự có một số vấn đề khí hậu và môi trường liên quan đến hoạt động của ngành hàng không.

Đầu tiên hàng không là một ngành tiêu thụ nhiên liệu hóa thạch, ngành này ngốn tới 5 triệu thùng dùng mỗi ngày. Việc đốt số nhiên liệu này hiện nay tạo ra khoảng 2,5% tổng số khí carbon phát thải – tỷ lệ này có thể tăng lên 22% vào năm 2050 khi các ngành khác tạo ra ít khí thải carbon hơn.

Vấn đề thứ 2 là, như hãng hàng Air Asia đã nói “Bây giờ ai cũng thể đi máy bay”. Và trong thế hệ của hàng không giá rẻ, người đã bay rồi thì sẽ bay nữa. Sự gia tăng nhu cầu này từ các du khách hiện nay và du khách mới đồng nghĩa với việc số máy bay chở khách trên bầu trời sẽ tăng gấp đôi vào năm 2035.

Vấn đề thứ 3 là không như các ngành khác, nơi có thể có giải pháp thay thế thân thiện hơn với môi trường (như năng lượng mặt trời thay cho than đá, đèn LED tiết kiệm điện năng thay cho đèn sợi tốt), hiện không có cách nào để chuyên chở trên bầu trời 8 triệu người mỗi ngày mà không phải đốt các loại dầu. Máy bay ngày càng trở nên hiệu quả hơn nhưng tốc độ của điều đó không đủ nhanh để bù trừ cho sự tăng trưởng khủng khiếp của nhu cầu đi lại bằng hàng không. Máy bay điện thì vẫn chưa sử dụng đại trà được (có lẽ phải hàng thập kỷ nữa), nó bị hạn chế về mức năng lượng trong ắc-quy – nó không thể cung cấp nhiều năng lượng như nhiên liệu phi cơ.

Tuy nhiên còn có một vấn đề đặc thù ở đây. Mặc dù không có hoạt động nào khác của con người lại thúc đẩy mức độ phát thải cá nhân nhanh và nhiều như đi lại bằng máy bay, hầu hết chúng ta không dừng lại để nghĩ về tác động về mặt carbon của hoạt động này đối với môi trường.

Trong khi ở nhiều nước, ô tô mới, các thiết bị ứng dụng trong nhà, thậm chí cả ngôi nhà có các thông số công khai về hiệu quả năng lượng, thì tác động về mặt carbon của hàng không lại gần như vô hình, dù cho nó tương đối lớn hơn nhiều. Chẳng hạn, một chuyến bay khứ hồi từ châu Âu sang Australia tạo ra khoảng 4,5 tấn carbon. Bạn có thể lái ô tô trên khoảng cách 2.000km mà vẫn tạo ra ít khí thải hơn thế. Và lưu ý là việc phát thải trung bình đầu người toàn cầu là khoảng 1 tấn.

Cái khó của vấn đề

Một số nghiên cứu chỉ ra rằng người dân có thể hoàn toàn không hay biết việc cá nhân họ đi máy bay là “góp phần” tạo ra biến đổi khí hậu.

Không khó để lý giải điều trên. Nghiên cứu các website các hãng hàng không cho thấy người ta ít đề cập tới tác động của ngành này lên môi trường. Các tổ chức phi chính phủ môi trường thường “im hơi lặng tiếng” về vấn đề này, có lẽ họ lưỡng lự khi phải thuyết giảng các thành viên của mình hãy bay ít hơn, và quan ngại về các cáo buộc về thói đạo đức giả khi chính nhân viên của họ bay khắp thế giới để dự các hội thảo về môi trường.

Các chính trị gia cũng ngại đề cập vấn đề này với các cử tri là người đi máy bay. Thực tế Thủ tướng Anh Tony Blair vào năm 2005 khi được hỏi “có bao nhiêu chính trị gia sắp tranh cử sẽ bỏ phiếu để chấm dứt hàng không giá rẻ”, ông đã trả lời là “zero”. Chiến lược của giới chính trị gia có lẽ là chuyền trách nhiệm này cho ngành hàng không và cầu mong cho điều tốt đẹp nhất.

Hàng không là ngành tăng trưởng mạnh, là con gà đẻ trứng vàng. Ở Anh, ngành này có thể tiếp tục tốc độ tăng trưởng lịch sử 4-5% hàng năm. Vấn đề chính đối với hàng không hiện nay là tìm đủ chỗ để chứa máy bay tại các sân bay đông đúc như Heathrow.

Việc đi lại bằng máy bay đang rẻ một cách “nhân tạo”, trong khi tàu hỏa và ô tô ngày càng đắt hơn. Lý do chính cho điều này là Công ước Chicago về Hàng không dân dụng Quốc tế, đạt được vào năm 1944 nhưng khi đó ngành hàng không nhỏ hơn bây giờ rất nhiều. Công ước này cấm áp thuế nhiên liệu máy bay và thuế VAT lên các chuyến bay quốc tế. Từ năm 1944, thuế áp lên các hình thức vận tải khác đã tăng đáng kể nhưng nhờ có công ước nói trên mà ngành hàng không vẫn gần như không hề hấn gì. Tình hình có chuyển biến mới vào thập niên 1990 khi có nhiều hãng hàng không giá rẻ giúp tiết kiệm chi phí và hạ thấp giá vé máy bay.

Giải pháp

Hàng không cùng với hàng hải được trao quy chế đặc biệt và được loại trừ khỏi các thỏa thuận biến đổi khí hậu Kyoto và Paris. Vì vậy ngành này có nhiệm vụ phải đưa ra giải pháp riêng.

Sau nhiều trì hoãn, cuối cùng Tổ chức Hàng không Dân dụng Quốc tế (ICAO) đã bắt tay vào giải quyết vấn đề phát thải hàng không vào năm 2016, giới thiệu một cơ chế dựa trên thị trường, gọi là kế hoạch giảm và bù trừ carbon trong ngành hàng không quốc tế (CORSIA).

Theo CORSIA, các hãng hàng không các nước được quy định hạn mức phát thải carbon – nếu họ vượt quá mức cho phép (thường là như vậy) thì họ phải mua lại sự bù trừ từ các ngành khác. Nhưng kế hoạch này không thực sự triệt để. Kế hoạch này thậm chí không có hiệu lực trong một thập kỷ nữa và chẳng làm gì để hạn chế nhu cầu, không như thuế carbon.

Như vậy việc điều tiết tác động của việc đi máy bay lên môi trường là một công việc phức tạp. Việc thờ ơ, thụ động là phản ứng dễ dàng nhất trước tình trạng ô nhiễm từ máy bay, nhưng nếu không hành động thì tình hình có thể xấu thêm.

Tác giả Roger Tyers đưa ra một vài giải pháp như cắt giảm số chuyến bay, mua bù trừ carbon cho các chuyến bay thiết yếu, và xem xét vấn đề ngành hàng không cứ phát triển bất tận. Ông cũng cho rằng nhận thức của mỗi công dân về vấn đề này cũng đóng vai trò quan trọng trong việc giải quyết vấn đề.

Ý kiến của bạn

Bình luận

Phát triển nguồn nhân lực cho xây dựng, vận hành đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam

Phát triển nguồn nhân lực cho xây dựng, vận hành đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam

Đường sắt tốc độ cao (ĐSTĐC) Bắc - Nam là dự án trọng điểm quốc gia, có ý nghĩa hết sức quan trọng, góp phần phát triển kinh tế - xã hội, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Trong đó, việc tiếp nhận chuyển giao công nghệ, phát triển công nghiệp và đào tạo nguồn nhân lực là một trong những yếu tố quan trọng đảm bảo quá trình đầu tư, vận hành, khai thác hiệu quả và từng bước đưa đường sắt tốc độ cao trở thành động lực phát triển của nền kinh tế.

Hội thảo quốc tế Xây dựng đường sắt tốc độ cao ở Việt Nam và Kinh nghiệm từ Trung Quốc

Hội thảo quốc tế Xây dựng đường sắt tốc độ cao ở Việt Nam và Kinh nghiệm từ Trung Quốc

Ngày 9/1 tại Hà Nội, Trường Đại học Giao thông vận tải (GTVT) phối hợp Trường Đại học Giao thông Tây Nam (Trung Quốc) tổ chức Hội thảo quốc tế Xây dựng đường sắt tốc độ cao tại Việt Nam và Kinh nghiệm của Trung Quốc.

Phát triển đường thuỷ nội địa - Giải pháp giảm bền vững chi phí logistics

Phát triển đường thuỷ nội địa - Giải pháp giảm bền vững chi phí logistics

Tại Việt Nam, chi phí logistics trung bình ở mức tương đương 16,8 - 17% GDP và vẫn còn ở mức khá cao so với mức bình quân chung của thế giới (khoảng 10,6%). Với tốc độ tăng lượng hàng hóa nêu trên, nếu cơ sở hạ tầng logistics và tính kết nối giữa các phương thức vận tải không được cải thiện sẽ không thể đáp ứng được nhu cầu vận tải, tình trạng tắc nghẽn các tuyến đường dẫn vào cảng biển chính sẽ ngày càng nghiêm trọng, khi đó chi phí logistics có thể tăng cao hơn so với thời điểm hiện tại, nếu không có giải pháp vận tải lâu dài, bền vững.

Tiêu chuẩn thiết bị an toàn cho trẻ em trên ô tô, kinh nghiệm thế giới và hướng áp dụng ở Việt Nam

Tiêu chuẩn thiết bị an toàn cho trẻ em trên ô tô, kinh nghiệm thế giới và hướng áp dụng ở Việt Nam

Tiêu chuẩn kỹ thuật số 44 (UN Regulation No.44 - UN R44) và Tiêu chuẩn kỹ thuật số 129 (UN Regulation No.129 - UN R129) do Ủy ban Kinh tế Liên hợp quốc về châu Âu (UNECE) ban hành cho hệ thống thiết bị an toàn của trẻ em trên xe ô tô. Hai tiêu chuẩn này được trình bày và so sánh với nhau để làm rõ tính ứng dụng thực tế vào Việt Nam. Bên cạnh đó, tình hình áp dụng hai tiêu chuẩn này trên thế giới và cụ thể tại Malaysia được trình bày chi tiết. Hiện tại, Việt Nam nên áp dụng đồng thời cả hai tiêu chuẩn để khuyến khích người đi ô tô sử dụng ghế trẻ em theo khả năng tài chính và nhu cầu an toàn; đồng thời nên có định hướng dẫn chuyển hoàn toàn sang UN R129.

5 thông tư mới lĩnh vực đăng kiểm cùng có hiệu lực từ 1/1/2025

5 thông tư mới lĩnh vực đăng kiểm cùng có hiệu lực từ 1/1/2025

Theo Cục Đăng kiểm VN, 5 thông tư mới về lĩnh vực đăng kiểm cùng có hiệu lực từ 1/1/2025, nhằm đồng bộ hóa về thời gian với Luật Trật tự, ATGT đường bộ.

Đề xuất thiết lập tuyến vận tải thủy xuyên suốt 4 nước dọc sông Mê Kông

Đề xuất thiết lập tuyến vận tải thủy xuyên suốt 4 nước dọc sông Mê Kông

6 quốc gia dọc tuyến sông Lan Thương – Mê Kông đang hướng đến xây dựng, áp dụng các quy định chung về giao thông thủy trên tuyến sông này; tiến tới thiết lập mạng lưới vận tải thủy xuyên suốt 4 nước.