![]() |
| Tại Nhật, Honda VTR "đời cuối" có giá khởi điểm từ 598.320 Yen (tương đương 126 triệu đồng). |
Với thành công của các dòng VF và VFR750 Interceptor vào thập niên 80, Honda đã tìm cách "phổ cập hóa" những mẫu xe thể thao này xuống phân khúc thấp hơn. Điều này đã dẫn tới sự ra đời của những chiếc Honda VTR250 Interceptor trong khoảng từ năm 1988 tới 1990. Sau đó, cái tên VTR250 đã một lần nữa được Honda đem trở lại vào năm 1997, lần này được đặt cho một mẫu naked bike với động cơ V-Twin 250cc và kiểu dáng khá giống Ducati Monster.
Kể từ đó tới nay, Honda đã liên tục sản xuất VTR để bán cho thị trường nội địa Nhật cho tới nay. Tuy nhiên do các quy định về khí thải ngày càng xiết chặt, kể từ năm sau Honda sẽ chính thức "khai tử" chiếc xe. 2019 sẽ là năm cuối cùng mà khách hàng có thể mua được những chiếc VTR mới từ showroom của hãng. Về thiết kế, VTR 2019 vẫn giữ nguyên kiểu dáng quen thuộc trong suốt hơn 20 năm qua của dòng xe.
![]() |
Honda bán VTR với tổng cộng 4 phiên bản là bản thường, Type LD, Special Edition và VTR-F. Trong đó, riêng chiếc VTR-F sở hữu kiểu dáng mang hơi hướng sport tourng với phần quây che kín đầu và đèn pha khá giống dòng CBR150R/250R cũ. 3 phiên bản còn lại đều mang kiểu dáng naked bike "lấy cảm hứng" từ Ducati Monster đã trở nên quen thuộc kể từ năm 1997. Phiên bản Type LD có chiều cao yên hạ từ 755 xuống chỉ còn 740mm, trong khi bản Special Edition chỉ khác ở màu sơn xám đặc biệt.
![]() |
| xedoisong_honda_vtr_3_xlbp |
Các trang bị của mọi phiên bản VTR cũng đều khá tương đồng với nhau khi chúng cùng sở hữu hệ thống phuộc trước dạng ống lồng Showa 41mm, phuộc sau monoshock, phanh đĩa đơn cho cả 2 bánh, lốp trước 110/70/17 và lốp sau 140/60/17. Trong khi các bản VTR với dáng naked bike sử dụng bảng đồng hồ kiểu truyền thống thì riêng với VTR-F, Honda đã trang bị cho xe đồng hồ cơ kèm các màn hình LCD gần như y hệt chiếc superbike CBR1000RR từ đời 2006-2007.
Nằm bên trong bộ khung Trellis của VTR vẫn tiếp tục là khối động cơ V-Twin DOHC 8 van, làm mát bằng chất lỏng, đường kính trái piston 60mm, hành trình tay biên 44,1mm, hộp số 5 cấp và kèm hệ thống phun xăng điện tử PGM-FI. Động cơ này đem lại cho chiếc xe công suất tối đa 30PS tại 10.500rpm và mô-men xoắn 22Nm tại 8.500rpm.
Tag:
VinFast Minio Green hiện đã về một số đại lý chờ bàn giao chính thức đến khách hàng sau gần 8 tháng nhận đặt cọc.
Đánh giá xe
Độ bền bỉ đáng nể đã được chứng minh qua thực tế, tiện lợi và chi phí sử dụng “rất hiền” là những lý do VinFast VF 8 trở thành lựa chọn yêu thích của cộng đồng người dùng Việt. Đặc biệt, trong tháng 12, mẫu D-SUV điện càng “nóng bỏng tay” bởi loạt ưu đãi không thể tốt hơn của VinFast.
Đánh giá xe
VinFast VF 5 đang trở thành mẫu SUV điện cỡ nhỏ được đông đảo người mua xe lần đầu “chọn mặt gửi vàng” bởi khả năng vận hành ổn định ở cả phố lẫn đường trường, loạt công nghệ đầy đủ và khả năng tối ưu chi phí không đối thủ.
Đánh giá xe
Giá lăn bánh dễ chịu, chi phí nuôi xe thấp và trang bị vượt tầm tiền là những mảnh ghép giúp VF 6 trở thành “hàng hot” trong phân khúc B-SUV.
Đánh giá xe
Sau hơn 30.000 km chạy dịch vụ bằng VinFast VF 5, anh Nguyễn Phước Hải cho rằng, công việc mới phù hợp sức khỏe và mang lại thu nhập tốt bởi mẫu A-SUV của VinFast quá bền bỉ và tối ưu về chi phí.
Đánh giá xe
VinFast VF5 và Toyota Raize đang có mức chênh lệch khấu hao sau 1 năm lăn bánh, người dùng vẫn đang lựa chọn xe điện chạy dịch vụ.
Đánh giá xe
Bình luận
Thông báo
Bạn đã gửi thành công.