Ứng dụng mô hình MIKE FLOOD tính toán ngập lụt

sao sao sao sao sao
08/02/2018 10:26

Ứng dụng mô hình MIKE FLOOD tính toán ngập lụt lưu vực hệ thống sông Nhật Lệ, tp. Đồng Hới

ThS. NGUYỄN VĂN TUẤN

Ban Quản lý Dự án Môi trường và Biến đổi khí hậu TP. Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình

TÓM TẮT: Bài báo giới thiệu một số kết quả ứng dụng mô hình MIKE FLOOD tính ngập lụt TP. Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình thông qua việc hiệu chỉnh và kiểm định với trận lũ năm 1999, năm 2016 và năm 2017 vừa qua. Kết quả mô phỏng của mô hình sẽ được sử dụng để xây dựng bộ bản đồ ngập lụt cho khu vực TP. Đồng Hới và lưu vực sông Nhật Lệ ở các nghiên cứu tiếp theo.

TỪ KHÓA: Mô hình MIKE-GIS, tính thủy lực cho hệ thống thoát nước giảm ngập lụt cho TP. Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình.

ABSTRACT: This document shows some results of MIKE FLOOD application for inundation measurement for Dong Hoi city, Quang Binh province through calibrating and testing floods in 1999, 2016 and 2017. The simulation results of the model will be used to develop an inundation map for Dong Hoi city and Nhat Le basin in further studies.

KEYWORDS: MIKE-GIS model, hydraulic calculation for drainages for Dong Hoi city, Quang Binh province (MIKE-GIS model, hydraulic calculation, Dong Hoi city).

1. ĐẶT VẤN ĐỀ

Lũ lụt miền Trung nói chung và TP. Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình nói riêng là một trong những thiên tai bất khả kháng tự nhiên, đe dọa cuộc sống của người dân và sự phát triển kinh tế - xã hội trong vùng. Để ứng phó, ngoài việc xây dựng các công trình cần có giải pháp tức thời như: Cảnh báo, dự báo vùng ngập, di dời và sơ tán dân cư đến khu vực an toàn... đã tỏ ra rất hiệu quả trong việc hạn chế các thiệt hại về tính mạng và tài sản nhân dân. Nhằm phát huy hiệu quả tối đa của các biện pháp trên cần phải xây dựng bộ bản đồ ngập lũ ứng với các trường hợp khác nhau phục vụ quy hoạch và bộ công cụ cảnh báo, dự báo diện ngập lụt phục vụ công tác ứng phó nhanh. Đồng thời, các công cụ này có thể được sử dụng để ước tính các thiệt hại khi xảy ra thiên tai.

MIKE 11 - GIS là mô hình tính toán thủy lực cho các hệ thống thoát nước và dòng chảy kết nối 1 và 2 chiều có khả năng mô phỏng mực nước và dòng chảy trên sông, vùng cửa sông, ven biển, cũng như mô phỏng dòng không ổn định hai chiều ngang trên đồng bằng ngập lũ. Mô hình này kết hợp các ưu điểm của mô hình 1 chiều cho mạng lưới sông (thời gian mô phỏng ngắn) với các lợi thế của mô hình 2 chiều (mô phỏng chính xác diện ngập lụt và trường vận tốc trên bề mặt đồng bằng ngập lũ) đồng thời tương thích với các cấu trúc GIS thông dụng, vì thế đã nhận được nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu cũng như có nhiều ứng dụng trong thực tiễn ở Việt Nam và trên thế giới.

2. VÙNG NGHIÊN CỨU VÀ MÔ HÌNH TÍNH

2.1. Vùng nghiên cứu

Vùng nghiên cứu là lưu vực sông Nhật Lệ có diện tích lưu vực 2.650km2, nằm trong vùng trũng của duyên hải Trung bộ (Hình 2.1). Địa hình lưu vực sông Nhật Lệ chủ yếu là đồi núi thấp, độ cao bình quân lưu vực đạt 234m và độ dốc đạt 20,1%, có hướng dốc từ Tây sang Đông. Lưu vực có dạng cung tròn, là tập hợp của 2 nhánh sông Kiến Giang và Long Đại. Nhánh sông Kiến Giang có chiều dài 96km chảy theo hướng Tây Nam - Đông Bắc ở phần thượng du, sau đó chuyển sang hướng Đông Nam - Tây Bắc ở phần hạ lưu, chạy song song với đường bờ biển và được ngăn cách với biển bằng dãy đụn cát cao. Nhánh Long Đại chảy theo hướng Tây Nam - Đông Bắc với chiều dài 93km. Bề mặt lưu vực bị chia cắt mạnh nên mạng lưới sông suối khá phát triển với mật độ lưới sông 0,84 km/km2. Phần hạ lưu sông khá trũng, thuận lợi cho việc tập trung nước, đồng thời cửa Nhật Lệ đổ ra biển hẹp lại có bãi cát chắn ngang gây khó khăn cho thoát lũ. Do vậy, hàng năm khu vực luôn chịu ảnh hưởng nặng nề của các trận lũ lụt trên diện rộng và uy hiếp TP. Đồng Hới.

Hình 2.1: Sơ đồ lưu vực hệ thống sông Nhật Lệ, tỉnh Quảng Bình

2.2. Giới thiệu mô hình MIKE FLOOD

Dòng chảy trong vùng ngập lũ là dòng chảy 2 chiều theo phương ngang, vừa có dòng chảy tập trung trong các mạng lưới sông suối vừa có dòng chảy tràn trên bề mặt, do vậy nếu sử dụng mô hình hai chiều để mô phỏng quá trình này thì yêu cầu lưới tính khá chi tiết để mô tả đủ chính xác các ảnh hưởng của dòng chảy tập trung trong các kênh, rãnh.

Mặt khác, dòng chảy tràn trên bề mặt chỉ xuất hiện khi có mực nước trong sông cao hơn cao trình bờ (hoặc đê), vì thế để giảm thời gian và khối lượng tính toán có thể kết hợp các ưu điểm của cả mô hình 1 và 2 chiều bằng cách chỉ kích hoạt mô-đun tính toán 2 chiều khi xuất hiện dòng chảy tràn. Mô hình MIKE FLOOD thực hiện các kết nối giữa mô hình MIKE 11 (tính toán thủy lực mạng sông 1 chiều) với mô hình MIKE 21 (mô phỏng dòng chảy nước nông 2 chiều theo phương ngang) bằng 4 loại kết nối:

- Kết nối tiêu chuẩn: Sử dụng khi một nhánh sông một chiều đổ trực tiếp vào vùng ngập 2 chiều;

- Kết nối bên: Sử dụng khi một nhánh sông nằm kề vùng ngập và khi mực nước trong sông cao hơn cao trình bờ thì sẽ kết nối với ô lưới tương ứng của mô hình 2 chiều;

- Kết nối công trình (ẩn): Sử dụng các dạng liên kết qua công trình;

- Kết nối khô (zero flow link): Là kết nối không cho dòng chảy tràn qua.

Mô hình MIKE FLOOD được phát triển bởi Viện Thủy lực Đan Mạch (DHI) thực chất là phần mềm liên kết giữa mô hình MIKE 11 và MIKE 21 đã được xây dựng trước đó. Bộ mô hình này có thể tích hợp nhiều mô-đun khác nhau, nhưng trong khuôn khổ nghiên cứu này chỉ sử dụng mô-đun RR (mô hình mưa - dòng chảy NAM) để tạo dòng chảy biên đầu vào cho mô hình thủy lực mạng sông (HD) kết hợp với mô hình thủy lực 2 chiều MIKE 21.

 

3. ỨNG DỤNG MÔ HÌNH MIKE FLOOD TÍNH TOÁN NGẬP LỤT LƯU VỰC SÔNG NHẬT LỆ

Dòng chảy trong vùng ngập lũ sông Nhật Lệ là dòng chảy 2 chiều vừa có dòng chảy tập trung trong các mạng lưới sông suối vừa có dòng chảy tràn trên bề mặt, do vậy nếu sử dụng mô hình hai chiều để mô phỏng quá trình này thì yêu cầu lưới tính khá chi tiết để mô tả đủ chính xác các ảnh hưởng của dòng chảy tập trung trong các kênh, rãnh. Mặt khác, dòng chảy tràn trên bề mặt chỉ xuất hiện khi có mực nước trong sông cao hơn cao trình bờ (hoặc đê), vì thế để giảm thời gian và khối lượng tính toán có thể kết hợp các ưu điểm của cả mô hình một và hai chiều bằng cách chỉ kích hoạt mô-đun tính toán hai chiều khi xuất hiện dòng chảy tràn.

3.1. Xây dựng cơ sở dữ liệu

- Dữ liệu địa hình: Bản đồ mô hình số độ cao khu vực nghiên cứu được xây dựng với độ phân giải 30x30m từ 28 tờ bản đồ địa hình tỷ lệ 1: 25.000 kết hợp với một số các số liệu cao độ bổ sung thu thập từ các nguồn khác nhau. Các mặt cắt ngang sông cho khu vực nghiên cứu đã thu thập bao gồm: 26 mặt cắt trên sông Kiến Giang, 28 mặt cắt trên sông Long Đại, 02 mặt cắt trên nhánh Hói Dài, 6 mặt cắt trên nhánh Sao Vàng và 9 mặt cắt trên sông Nhật Lệ.

- Dữ liệu khí tượng thủy văn: Đã thu thập bao gồm số liệu mưa giờ tại Đồng Hới các năm 1999, năm 2016 và 2017; số liệu mực nước giờ tại các trạm Kiến Giang, Lệ Thủy, Đồng Hới các năm 1999 năm 2016 và 2017; số liệu trích lũ lưu lượng tại hai trạm Kiến Giang và Tám Lu năm 1972 và quan hệ H~Q của trạm Kiến Giang. Trên toàn bộ vùng nghiên cứu hiện nay không có trạm đo lưu lượng, do vậy để làm cơ sở cho việc hiệu chỉnh và kiểm định mô hình mưa - dòng chảy (NAM), số liệu lưu lượng đã được tái tạo tại trạm Kiến Giang sử dụng đường quan hệ Q~H.

3.2. Thiết lập mô hình MIKE FLOOD cho hệ thống sông Nhật Lệ

- Xây dựng mạng lưới thủy lực một chiều mạng lưới thủy văn khu vực nghiên cứu được mô tả bằng sơ đồ thủy lực bao gồm sông chính là sông Kiến Giang với chiều dài 96km, gồm 200 nút tính toán với 26 mặt cắt, biên trên là trạm thủy văn Kiến Giang, biên dưới là trạm thủy văn Đồng Hới nằm cách cửa sông 02km. Nhánh sông Long Đại dài 93km, gồm 180 nút tính toán với 28 mặt cắt, biên trên lấy tại vị trí trạm thủy văn Tám Lu cũ, đổ vào dòng chính Kiến Giang tại ngã ba Quán Trung. Ngoài ra, mạng thủy lực còn bao gồm một số sông nhánh như Hói Dài, kênh Sao Vàng…

- Xây dựng mạng thủy lực hai chiều giới hạn vùng ngập ở hạ lưu được xác định trên cơ sở bản đồ địa hình kết hợp với một số các tài liệu khảo sát các trận lũ lịch sử nhằm đảm bảo bao trùm toàn bộ vùng ngập lụt tối đa. Bản đồ DEM khu vực nghiên cứu với độ phân giải 30x30m đã xây dựng ở trên được sử dụng làm nền địa hình cho mô hình MIKE 21. Nền địa hình này đã có kết hợp với các tài liệu về mạng lưới đường sắt, các tuyến quốc lộ và tỉnh lộ trong khu vực. Khu vực nghiên cứu được rời rạc hóa theo lưới phần tử hữu hạn (FEM) với khoảng cách các ô lưới là từ 200 - 250m. Với diện tích của phần tử lớn nhất là 62.500m2, góc nhỏ nhất 30o toàn bộ vùng ngập lụt chia thành 14604 phần tử với 7723 nút lưới (Hình 3.1).

Hình 3.1: Sơ đồ lưới phần tử hữu hạn dùng trong mô hình 2 chiều

- Tiến hành kết nối (Coupling) trong MIKE FLOOD. Sau khi xây dựng mạng lưới thủy lực trong MIKE 11 và MIKE 21, chạy thông cả 2 mạng thủy lực, tiến hành Coupling cả hai mạng thủy lực trên trong MIKE FLOOD với các lựa chọn thể hiện trong Bảng 3.1.

Bảng 3.1. Các lựa chọn kết nối trong Mike Flood

Tên sông Mô-đun Coupling Loại kết nối Số ô lưới kết nối trong Mike 21

Kiến Giang HD Bên 230

Long Đại HD Bên 27

Nhật Lệ HD Bên 80

Đập Mỹ Trung HD Công trình 6

 

 

3.3. Hiệu chỉnh và kiểm định mô hình MIKE FLOOD

Để có thể tiến hành tính toán, mô phỏng quá trình dòng chảy lũ trên lưu vực bằng mô hình thủy văn, thủy lực cần tiến hành các bước hiệu chỉnh và kiểm định bộ thông số cho mô hình tính toán. Do biên đầu vào của mô hình MIKE FLOOD phải tính gián tiếp từ mưa bằng mô hình NAM, do vậy trước hết phải kiểm định và hiệu chỉnh mô hình NAM.

- Hiệu chỉnh và kiểm định mô hình NAM trên toàn lưu vực hiện không có tài liệu đo lưu lượng, do vậy đường quan hệ Q-H tại trạm Kiến Giang đã được sử dụng để phục hồi số liệu lưu lượng cho các trận lũ nghiên cứu. Dựa trên tình hình tài liệu đo đạc thủy văn cũng như để phù hợp với tài liệu đo đạc địa hình, hai trận lũ năm 1999 và 2000 đã được lựa chọn để hiệu chỉnh và kiểm định mô hình. Cụ thể:

- Trận lũ từ ngày 10 đến ngày 16/11/2000 sử dụng cho hiệu chỉnh - trận lũ từ ngày 01 đến ngày 10/11/1999 sử dụng cho kiểm định kết quả hiệu chỉnh và kiểm định mô hình NAM tại trạm Kiến Giang được biểu diễn trong các Hình 3.2 và Hình 3.3.

Hình 3.2: Kết quả hiệu chỉnh mô hình NAM

Hình 3.3: Kết quả kiểm định mô hình NAM

Kết quả hiệu chỉnh được đánh giá bằng chỉ tiêu Nash là 75,2% và kiểm định là 72,3% đều đạt loại khá và đảm bảo yêu cầu cho các bước tính toán tiếp theo.

- Hiệu chỉnh và kiểm định mô hình MIKE FLOOD để tăng cường độ chính xác cũng như tiết kiệm thời gian tính toán, mô hình kết nối 1-2 chiều MIKE FLOOD được hiệu chỉnh và kiểm định với hai trận lũ năm 2000 và 1999 như trên. Các kết quả tính toán so sánh với số liệu thực đo trạm Lệ Thủy và biểu diễn trong các Hình 3.4, 3.5 với kết quả hiệu chỉnh và kiểm định theo chỉ tiêu Nash lần lượt đạt 87,4% và 88,9%, đạt loại tốt.

Hình 3.4: Kết quả hiệu chỉnh mô hình MIKE FLOOD

Hình 3.5: Kết quả kiểm định mô hình MIKE FLOOD

- Đánh giá kết quả tính toán diện ngập lụt trận lũ 1999 nhằm mục tiêu đánh giá khả năng tính toán diện ngập lụt bằng mô hình kết nối đã xây dựng, kết quả tính toán được xuất ra dưới dạng file ASCII và sau đó xử lý bằng phần mềm ArcGis 9.1 nhằm xây dựng các vùng ngập lụt với độ sâu ngập khác nhau thành các lớp thông tin (layer) trên hệ GIS, từ đó kết hợp với lớp ranh giới hành chính có sẵn để tính toán diện tích ngập ứng với các xã, huyện và cho toàn vùng. Các số liệu tính toán được so sánh với số liệu thống kê ngập lụt theo nghiên cứu của Dự án hỗ trợ quản lý thiên tai tại Việt Nam do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và UNDP phối hợp thực hiện năm 2004.

Kết quả trong Bảng 3.2 và Hình 3.6 cho thấy, tuy rằng mô hình tính toán diện tích ngập lụt có nhiều thiên tai lớn nhưng với sai số NASH=73,6% đã chứng tỏ mô hình mô phỏng tương đối tốt diện tích ngập lụt trong trận lũ năm 1999.

Bảng 3.2. Thống kê ngập lụt theo lưu vực sông Nhật Lệ trận lũ 10/1999

STT Tên xã Diện ngập TT (ha) Thống kê (ha) STT Tên xã

Diện ngập TT (ha) Thống kê (ha)

1 Đồng Mỹ 68 45 18 Mai Thủy 546 388

2 Đồng Phú 382 27 19 Mỹ Thủy 204 337

3 Đức Ninh 723 413 20 Phú Hải 336 231

4 An Ninh 1497 1458 21 Phú Thủy 1281 924

5 An Thủy 2190 2142 22 Phong Thủy 996 932

6 Cam Thủy 403 416 23 Sơn Thủy 1171 921

7 Dương Thủy 714 409 24 Tân Ninh 1284 1191

8 Duy Ninh 787 745 25 Liên Thủy 733 694

9 Gia Ninh 861 747 26 Xuân Thủy 483 444

10 Hàm Ninh 1454 942 27 Vĩnh Ninh 1801 1104

11 Hải Đình 150 93 28 Võ Ninh 592 1251

12 Hải Thành 172 64 29 Vạn Ninh 1314 1307

13 Hồng Thủy 1424 1188 30 TT. Kiến Giang 157 413

14 Hiền Ninh 793 648 31 Thanh Thủy 685 620

15 Hoa Thủy 1741 1585 32 Tân Thủy 627 833

16 Lương Ninh 681 681 33 Xuân Thủy 483 444

17 Lộc Thủy 446 440

 

Hình 3.6: Kết quả so sánh diện ngập theo từng xã trận lũ năm 1999

4. KẾT LUẬN

Mô hình MIKE FLOOD ứng dụng tính toán ngập lụt cho khu vực hạ lưu sông Nhật Lệ, TP. Đồng Hới đã được hiệu chỉnh và kiểm định với kết quả đánh giá theo chỉ tiêu Nash đều lớn hơn 85% đạt loại tốt. Riêng với diện ngập lụt so sánh theo số liệu thống kê đạt loại khá (73,6%), điều này chứng tỏ mô hình đã mô phỏng tương đối tốt quá trình ngập lụt hạ lưu sông Nhật Lệ, TP. Đồng Hới và bộ mô hình có thể được sử dụng trong thực tế phục vụ công tác cảnh báo, dự báo, phòng chống giảm nhẹ thiên tai nói chung và lũ lụt nói riêng.

Tài liệu tham khảo

[1]. Nguyễn Văn Tuấn (2014), Đánh giá hệ thống thoát nước TP. Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình và các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng, Luận văn Thạc sỹ kỹ thuật, Trường Đại học GTVT.

[2]. Nguyễn Văn Cư (2000), Một số nhận định về trận lũ từ ngày 01 - 6/11/1999 vùng Trung bộ và kiến nghị một số giải pháp cấp bách khắc phục sau lũ lụt, Tuyển tập báo cáo hội nghị “Khoa học, công nghệ dự báo và phục vụ dự báo khí tượng thủy văn”, tập 2, Hà Nội.

[3]. Nguyễn Lập Dân (2004), Nghiên cứu cơ sở khoa học cho các giải pháp tổng thể dự báo phòng tránh lũ lụt ở miền Trung, Báo cáo tổng kết Đề tài KC - 08 - 12, lưu trữ tại Bộ Khoa học và Công nghệ.

[4]. Đặng Đình Khá (2009), Ứng dụng mô hình MIKE FLOOD tính toán mức độ ngập lụt khu vực Bắc Thường Tín, Khóa luận tốt nghiệp, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên - Đại học Quốc gia Hà Nội.

[5]. Denmark Hydraulic Institute (DHI) (2007), “MIKE FLOOD Reference Manual” DHI, 514 pp.

[6]. Denmark Hydraulic Institute (DHI) (2007), "MIKE FLOOD User Guide” DHI, 514 pp.

[7]. Nguyễn Lập Dân (2007), Nghiên cứu hiện trạng, xác định nguyên nhân và đề xuất các giải pháp phòng chống bồi lấp cửa sông nhằm khai thông luồng Nhật Lệ - Quảng Bình, Báo cáo tổng kết đề tài, Hà Nội.

[8]. Dự án Vệ sinh môi trường TP. Đồng Hới; Dự án phát triển môi trường, hạ tầng đô thị để ứng phó với biến đổi khí hậu TP. Đồng Hới; Dự án môi trường bền vững các thành phố Duyên hải - Tiểu dự án TP. Đồng Hới thực hiện (2006), Bản đồ ngập lũ lịch sử năm 1999 và năm 2016, 2017.

 

Ý kiến của bạn

Bình luận

Ứng dụng CNTT trong hoạt động vận tải nhằm giảm chi phí logistics

Ứng dụng CNTT trong hoạt động vận tải nhằm giảm chi phí logistics

Bài báo đề cập tới lợi ích và giải pháp cần thiết để doanh nghiệp Việt Nam ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT)...

Nghiên cứu ứng dụng logic mờ trong phân tích tài chính dự án giao thông theo hình thức hợp tác công - tư

Nghiên cứu ứng dụng logic mờ trong phân tích tài chính dự án giao thông theo hình thức hợp tác công - tư

Phát triển cơ sở hạ tầng giao thông sẽ tạo điều kiện để phát triển kinh tế - xã hội, đáp ứng tiến trình hội nhập kinh tế...

Đánh giá ảnh hưởng của hệ số tổn thất khí động qua xu-páp nạp, thải đến các thông số vận hành của động cơ Hyundai 2.5TCI-A

Đánh giá ảnh hưởng của hệ số tổn thất khí động qua xu-páp nạp, thải đến các thông số vận hành của động cơ Hyundai 2.5TCI-A

Hiện nay, việc tính toán chu trình công tác (CTCT) của động cơ đốt trong thường sử dụng các phần mềm mô phỏng (PMMP) chuyên dụng như: Diesel RK, GT - Power, AVL - Boost…

Nghiên cứu sóng hài dòng điện hệ thống cung cấp điện kéo đường sắt đô thị

Nghiên cứu sóng hài dòng điện hệ thống cung cấp điện kéo đường sắt đô thị

Đường sắt đô thị là loại hình GTVT đáp ứng nhu cầu đi lại của người dân trong các thành phố hiện đại.

Nghiên cứu đặc tính thâm nhập ion clo của bê tông geopolymer tro bay

Nghiên cứu đặc tính thâm nhập ion clo của bê tông geopolymer tro bay

Bài báo trình bày kết quả nghiên cứu đặc tính thâm nhập ion clorua của bê tông geopolymer tro bay.

Nghiên cứu đặc điểm đi lại và đề xuất giải pháp phát triển xe đạp công cộng tại các đô thị ở Việt Nam

Nghiên cứu đặc điểm đi lại và đề xuất giải pháp phát triển xe đạp công cộng tại các đô thị ở Việt Nam

Xe đạp công cộng được nhiều quốc gia trên thế giới xem là mắt xích cuối cùng trong chuỗi vận tải đa phương tiện